Chương 19: Ánh Kiếm Khâm Sai Soi Mộng Cũ
Từng bước chân của Khâm sai Tuần phủ Lê Viết Thuận nện chắc nịch trên những tấm ván lim dày dặn, vang lên thanh âm trầm đục giữa gian kiều sực mùi khói bếp gừng. Thanh Thượng phương bảo kiếm vỏ nạm vàng ròng khẽ chạm vào dải đai ngọc bên hông ông, phát ra tiếng leng keng khô giòn. Đôi mắt phượng nghiêm nghị của vị đại quan quét một vòng qua bảy gian cầu ngói.
Nơi đây, hơn ba trăm mạng người già yếu, trẻ nhỏ xóm Ngói cùng dân tị nạn bến Lục Đầu đang co cụm ngồi nép bên nhau. Gió lạnh sau cơn lũ lớn vẫn rít qua khe lan can gỗ, nhưng dưới mái ngói vảy rồng kiên cố và nồi cháo hoa nghi ngút khói, nét mặt họ đã vơi đi nỗi kinh hoàng. Cách đó không xa ngoài bến, dòng Lục Đầu Giang đỏ ngầu phù sa vẫn cuồn cuộn gầm réo, cuốn theo vô số rác rưởi, cột nhà trôi nổi cùng dấu tích tan hoang của những làng mạc ven sông bị cơn đại hồng thủy xé toạc đêm qua. Thế nhưng, bảy gian Thất Diệu Kiều vẫn gối đầu vững chãi trên sáu hàng mố đá xanh, sừng sững tựa một pháo đài bình yên giữa biển nước mênh mông.
Cụ Thiều Thục Chi đứng tựa nhẹ vào cây gậy tre đực nơi gian giữa, chòm tóc bạc phơ khẽ lay động theo làn gió sớm. Bàn tay gầy guộc nổi rõ những đường gân xanh của cụ siết nhẹ thân gậy, ánh mắt quắc thước dõi theo từng cử chỉ của vị đại quan triều đình.
Chưa kịp để Khâm sai mở lời, một bóng người từ mép cột cái bỗng lết xộc tới. Hoàng Bá Khang đầu tóc rũ rượi, vạt áo lam sam rách mướp dính bê bết bùn non và nhớt rêu, vừa bò vừa dập đầu chan chát xuống mặt sàn gỗ lim “Khâm sai đại nhân cứu mạng! Đại nhân minh xét cho hạ quan!”
Tiếng khóc lóc thảm thiết của viên tri huyện làm lũ trẻ con giật mình nép chặt vào lòng mẹ. Hoàng Bá Khang quỳ mọp dưới chân Lê Viết Thuận, ngón tay run rẩy chỉ ngược về phía cụ Thiều cùng đám thợ mộc xóm Ngói “Bẩm đại nhân! Đám man thứ xóm Ngói cậy đông mưu đồ làm phản! Hạ quan vâng mệnh triều đình trông coi đê điều, thấy cây cầu này chắn ngang cổ họng dòng sông cản lũ gây ngập đê bao tổng An Lạc, bèn phát cáo thị lệnh cho dân tự dỡ bỏ. Nào ngờ mụ già Thiều thị cầm đầu phường mộc chống lệnh quan trên, tụ tập bè lũ hung hãn, dùng hung khí hành hung sai nha và bức hại cả hạ quan! Còn tên phú thương Trần Phú Đạt kia đem thuyền tới cứu hộ cũng bị chúng đánh chìm tan tành! Xin đại nhân tuốt kiếm trảm ngay lũ nghịch tặc này để giữ nghiêm phép nước!”
Trần Phú Đạt nằm sóng soài gần đó cũng lồm cồm bò dậy, mặt cắt không còn giọt máu, miệng méo xệch phụ họa theo “Đúng... đúng như lời quan phụ mẫu! Chúng thần một lòng vì việc trị thủy, mong đại nhân soi xét...”
Khâm sai Lê Viết Thuận không thèm liếc nhìn hai kẻ đang phủ phục dưới chân. Ánh mắt ông dừng lại nơi vóc dáng quắt queo nhưng thẳng tắp như cây cột cái lim già của cụ Thiều Thục Chi. Nhận thấy sự ung dung, đĩnh đạc toát ra từ cốt cách của một bậc lão thợ cả, nét mặt vị Khâm sai thoáng giãn ra đôi chút.
Cụ Thiều Thục Chi chậm rãi bước lên ba bước, hai tay nâng ngang ngực, khom mình hành lễ theo đúng phép tắc của một thảo dân trước mệnh quan mang kiếm lệnh “Thảo dân Thiều Thục Chi, lão thợ cả xóm Ngói, kính lạy Khâm sai đại nhân.”
“Cụ lớn miễn lễ.” — Giọng Lê Viết Thuận trầm ấm mà vang lộng khắp gian kiều. — “Bản chức phụng mệnh tuần thú vùng duyên hải đông bắc kiểm tra đê điều và việc trị thủy bến sông. Vừa rồi xuôi thuyền qua bến Lục Đầu, chứng kiến nhà cửa hai bờ chìm trong biển nước, chỉ duy có cây cầu ngói này chở che trọn vẹn mấy trăm sinh linh. Cụ lớn tuổi đã bát tuần, có điều gì muốn giãi bày trước Thượng phương bảo kiếm chăng?”
“Tạ ơn đại nhân đã đoái thương bách tính hàn vi.” — Cụ Thiều ngẩng cao đầu, giọng đanh thép, sang sảng át cả tiếng sóng vỗ dưới chân cầu. — “Hoàng tri huyện mở miệng ngậm máu phun người, vu cho cây cầu cản lũ phá đê. Nhưng xin đại nhân hãy nhìn xuống làn nước cuộn đỏ ngoài kia! Nếu không có kết cấu thượng gia hạ kiều của tổ tiên truyền lại, bảy gian nhà ngói nặng nghìn cân ghì chặt khung dầm, thì đợt sóng thần ngàn năm đêm qua đã cuốn trôi cả cầu lẫn người về tận bi*n đ*ng! Cầu đứng vững mới có chỗ cho ba trăm con người này nương náu!”
Dứt lời, cụ Thiều quay sang Đặng Văn Mộc đang đứng trang nghiêm phía sau. Mộc lập tức bước tới, kính cẩn mở chiếc tráp gỗ thị bọc lụa điều. Cụ Thiều kính cẩn nâng cuốn sách da trâu xỉn màu năm tháng cùng một cuộn giấy bản vẽ mực son rực rỡ dâng lên trước mặt Khâm sai:“Bẩm đại nhân, đây là cuốn ‘Mộc Kinh Thượng Diệu’ truyền đời của dòng họ Thiều và bản vẽ mộng khóa đối lực do thảo dân cùng cố Phó cả Đặng Văn Nghiêm cẩn chế hai mươi năm trước. Trị thủy của nghề mộc mộng Đại Việt ta lấy nhu khắc cương, thuận theo thế nước chứ không cậy sức sắt đá để chặn nước bừa bãi. Nhờ hệ mái ngói nặng đè xuống, các thanh xà nách, câu đầu, con bọ ép chặt lấy nhau; dưới chân mố lại dùng mộng đuôi én và then giằng lục giác ôm khít đá xanh. Khi sóng lũ xô tới, áp lực ngàn cân không phá vỡ mố mà trái lại, biến thành lực nén đa chiều ép các đầu mộng càng thêm khít khao, rẽ đôi ngọn sóng dữ thoát sang hai bên bờ bãi, bảo toàn đê điều cho hạ lưu!”
Khâm sai Lê Viết Thuận đón lấy cuộn bản vẽ. Từng nét mực son tinh xảo, từng vạch chia tỷ lệ mộng đuôi én ăn khớp với dòng chảy con nước Lục Đầu Giang hiện lên rõ ràng, mạch lạc khiến mày rậm của ông khẽ nhướng lên kinh ngạc.
Không nói một lời, vị Khâm sai phất tay ra hiệu “Dẫn đường cho bản chức xuống gầm mố đá số ba!”
Đặng Văn Mộc vội vàng dẫn vị đại quan bước xuống bậc đá xanh mép bến, nơi nước lũ vừa rút để lộ ra toàn bộ hệ giàn dầm gỗ táu ngâm bùn vừa được gia cố đêm qua. Cụ Thiều chống gậy tựa lan can thành kiều, chăm chú dõi mắt trông theo từng bước chân của Khâm sai dưới gầm mố đá ẩm ướt nồng mùi phù sa. Không có lấy một chiếc đinh sắt, không một mẩu xích sắt hoen rỉ. Từng thanh gỗ táu, gỗ lim to bản lồng ghép vào nhau khít khao như da thịt liền một khối. Những chiếc nêm vát góc hai phân găm chặt vào thớ đá xanh, vững vàng tựa bàn thạch trước dòng nước xiết đang sủi bọt trắng xóa.
Lê Viết Thuận đưa tay vuốt dọc theo đường ghép mộng mang cá, ngón tay khẽ gõ lên thớ gỗ táu phát ra tiếng vang chắc nịch như chuông đồng. Ông đứng thẳng dậy, đôi mắt phượng ánh lên vẻ thán phục khôn xiết “Kỳ diệu thay! Lấy mềm khắc cương, dùng sức nặng của ngói nén chặt khung gỗ, khóa dòng lũ bằng then mộng gỗ ngàn năm mà không tốn lấy một tấc sắt thép! Đây quả thực là đỉnh cao bách nghệ của tiền nhân đất Việt, là bảo vật hộ dân cứu đê chứ cản lũ nỗi gì!”
Nghe lời phán như sấm rền của Khâm sai, Hoàng Bá Khang và Trần Phú Đạt run lên bần bật, mặt mày xám ngoét như tro tàn.
Lê Viết Thuận bước ngược lên sàn cầu, ánh mắt nhìn cụ Thiều tràn đầy vẻ kính trọng “Cụ lớn quả là bậc kỳ tài bách nghệ. Công đức bảo vệ cây cầu này đáng ghi vào sử sách bản hạt!”
“Đại nhân quá khen, thảo dân chỉ giữ trọn đạo nghề thợ mộc.” — Cụ Thiều chắp tay đáp từ, rồi ánh mắt cụ bỗng quắc lên, đanh thép hướng thẳng về phía rương gỗ thị khóa đồng hoa sen đặt dưới khám thờ Lỗ Ban. — “Nhưng thưa đại nhân, mộng gỗ dẫu vững trước thiên tai ngàn năm, cũng suýt bị lòng lang dạ thú của lũ sâu mọt đục khoét làm cho sụp đổ! Bách tính xóm Ngói chúng tôi đã nén nhịn bao ngày qua để bảo vệ tính mạng dân lành trước bão lũ. Nay đại nhân mang kiếm lệnh tới bến sông, đã đến lúc đem toàn bộ tội ác đục mố, cưa giằng và bản giao ước ngầm bẩn thỉu ra trước ánh sáng công lý!”
Khâm sai Lê Viết Thuận sa sầm nét mặt. Bầu không khí trên Thất Diệu Kiều bỗng chốc đông cứng lại trong sự uy nghiêm ngột ngạt. Bàn tay gân guốc của vị Khâm sai siết chặt chuôi bảo kiếm, lưỡi kiếm Thượng phương trong bao khẽ rung lên một tiếng “keng” đanh thép, lạnh buốt thấu xương.
Đôi mắt phượng của ông trừng trừng nhìn xuống hai kẻ tham tàn đang run rẩy dưới đất, rồi cất giọng vang như sấm dậy “Lập tức mở công đường ngay giữa gian chính Thất Diệu Kiều! Bản chức muốn xem tường tận kẻ nào to gan dám mượn danh thiên tai để mưu hại bách tính!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
