Chương 21: Thư Hòa Đình Chiến

Bàng Khắc Thiệu khẽ run lên trước cái siết tay rắn chắc của Đinh Lễ. Hơi ấm từ bàn tay vị danh tướng truyền qua manh áo vải gai sờn rách, xua tan cái lạnh buốt thấu xương ngấm vào da thịt ông suốt những đêm dài thức trắng bên nồi tiêu. Nhìn xuống thung lũng Mộng Giường trải rộng dưới nắng sớm, Thiệu cúi đầu, giọng trầm khàn nghẹn lại vì xúc động “Tướng quân quá khen. Kẻ hèn này chỉ góp chút công mọn của người thợ mỏ. Lam Sơn đứng vững là nhờ oai linh sông núi, tài thao lược của Tướng quân và máu xương của toàn thể anh em nghĩa binh.”

Gió sớm thổi tan những vệt sương lam mịt mùng, để lộ cảnh hoang tàn nơi hẻm núi hiểm trở. Dưới chân đèo, xác xe pháo ngổn ngang giữa bùn lầy xới lộn, hàng chục cỗ pháo đồng đen của quân Minh nằm chỏng chơ bên cạnh đống khiên gỗ vỡ vụn. Mùi khói tiêu quyện hương nhựa trám và sáp ong rừng thoang thoảng trong gió, xua tan hoàn toàn mùi ẩm mốc tanh nồng của chuỗi ngày bế tắc.

Thiệu cùng Đinh Lễ rảo bước xuống lòng thung lũng. Từng toán nghĩa binh áo tơi rách rưới đang khẩn trương thu dọn chiến trường, thu gom giáo mác, cung nỏ của giặc vứt lại. Từ phía chiến hào tiền tiêu, Đỗ Vạn thoăn thoắt chạy tới, khuôn mặt lấm lem muội than rạng ngời vẻ phấn chấn. Chàng thiếu niên hai tay nâng cao hai món chiến lợi phẩm: thanh bảo kiếm chuôi khảm ngọc sáng loáng và lá cờ soái thêu chỉ vàng đã rách bươm mép dưới.

“Bẩm Tướng quân, bẩm thầy!” – Vạn dõng dạc, mắt sáng rực – “Mã Kỳ trúng đạn chì của tiểu nhân, hoảng hốt vứt kiếm bỏ cờ chạy thục mạng về đồng bằng. Đây là kiếm báu và cờ soái của hắn vứt lại giữa bãi bùn!”

Đinh Lễ đón lấy thanh kiếm, tuốt nửa lưỡi thép xanh biếc sắc lạnh rồi tra mạnh vào vỏ. Tiếng “cạch” đanh gọn vang lên. Vị tướng quân giơ cao thanh kiếm cùng lá cờ trước ba quân “Quân Minh đã vỡ mật! Uy danh Lam Sơn vang dội núi rừng!”

Tiếng hò reo dậy đất từ hàng ngàn lồng ngực nghĩa binh lập tức dội vang khắp các vách đá Mộng Giường, làm rung chuyển cả đại ngàn.

Khi trở về lán trung quân, tiếng reo hò ngoài bãi cờ vẫn chưa dứt. Đinh Lễ ngồi xuống chiếc chõng tre, trút bỏ lớp giáp da thú sờn rách. Bàng Khắc Thiệu tiến lại gần, nhìn thấy dải vải trắng quấn quanh mạn sườn phải của vị chủ tướng đã ướt đẫm vệt máu đỏ thẫm. Vết rách thịt sâu do giao chiến kịch liệt qua bao ngày đêm đang tấy đỏ, rỉ máu từng hồi.

Người lính quân y vội vã mang vào chiếc chậu đồng đựng nước ấm cùng bát thuốc lá ngải dại và rễ sim rừng giã nhuyễn. Thiệu lẳng lặng bước tới giúp người lính gỡ dải băng cũ. Khi bã thuốc thảo dược chát xót áp vào miệng vết rách, bắp thịt trên mặt Đinh Lễ khẽ giật nhẹ, nhưng ánh mắt ông vẫn kiên định không hề biến sắc.

Chỉ sau một tuần trà, nhờ dược tính của cỏ cây rừng núi kết hợp với bàn tay thuần thục của quân y, dòng máu rỉ nơi mạn sườn phải đã ngừng hẳn. Vết thương sâu sau bao trận huyết chiến nay bắt đầu se khô miệng, dần khép lại khi chiến sự tạm lắng. Đinh Lễ thở phào một hơi dài, kéo vạt áo chàm che lại vết thương vừa quấn băng mới.

Thấy vị tướng quân đã hồi phục sắc khí, Bàng Khắc Thiệu đứng nghiêm, hai tay cẩn trọng tháo thẻ lệnh bài đồng đúc hình đầu hổ đeo bên thắt lưng. Ông bước lên hai bước, cung kính nâng thẻ bài ngang trán dâng lên trước mặt Đinh Lễ.

“Bác Thiệu, việc này là ý gì?” – Đinh Lễ ngạc nhiên hỏi.

Thiệu ngước nhìn vị chỉ huy, ánh mắt điềm đạm mà sâu lắng “Thưa Tướng quân, thẻ lệnh này ngài trao cho kẻ hèn để toàn quyền điều phối hỏa doanh trong mười ngày sinh tử. Nay năm trăm cân hỏa dược đã hoàn thành, giặc dữ Mã Kỳ đã bại tẩu, hiểm họa căn cứ được giải tỏa trọn vẹn. Thảo dân xin dâng trả lệnh bài về tay chủ soái.”

Ngừng một lát, người thợ già bộc bạch nỗi lòng chôn chặt bấy lâu “Thuở trước, khi trốn chạy khỏi lò luyện thuốc súng của giặc ở Đông Quan, lòng kẻ hèn chỉ chất chứa hận thù gia tộc bị đày đọa đến chết mòn nơi mỏ quặng. Kẻ hèn từng nghĩ đến đây chỉ để rửa mối hận riêng của dòng họ. Nhưng những ngày tuyệt lương nhai củ mài, chứng kiến anh em nghĩa binh đổ máu vì từng tấc đất quê hương, kẻ hèn mới hiểu ngọn lửa này không thuộc về riêng ai. Nay kẻ hèn này đã trút bỏ hoàn toàn mặc cảm oán thù nhỏ hẹp để hòa mình vào đại nghĩa Lam Sơn.”

Đinh Lễ xúc động đứng dậy. Ông đưa đôi bàn tay rắn rỏi gạt nhẹ tay Thiệu, đẩy chiếc thẻ lệnh trở lại lòng bàn tay người thợ già:“Bác Thiệu, tấm lòng của bác sáng như sao Khuê! Lam Sơn đánh đuổi bạo tàn, giữ gìn bờ cõi, há lại thiếu đi bậc hiền tài như tiên sinh? Tấm lệnh bài này từ nay thuộc về bác. Bản tướng ủy thác trọn quyền hỏa thuật Lam Sơn cho bác, để mồi lửa Chí Linh rực sáng khắp non sông.”

Đúng lúc ấy, ngoài cửa lán vang lên tiếng lính truyền tin bẩm báo. Một sứ giả giặc Minh đầu đội mũ sắt trần, hai tay bưng phong thư bọc lụa vàng khúm núm tiến vào lán.

Sau trận tháo chạy tơi bời ở Mộng Giường, tàn quân Mã Kỳ co cụm dưới chân núi, không còn nhuệ khí tái chiến. Viên tướng giặc ngạo mạn ngày nào nay phải muối mặt gửi thư xin tạm thời đình chiến, cam kết bãi bỏ phong tỏa các ngả đường mòn.

Đinh Lễ mở thư xem lướt qua, nở nụ cười rạng rỡ. Vị tướng quân quay sang nhìn Thiệu và tướng sĩ “Chúa công Bình Định vương từ sớm đã liệu định mưu sâu. Người vừa ban mật dụ chấp thuận cho giặc giảng hòa tạm thời. Chúng ta cần thời gian dưỡng sức, tích lũy lương thảo và rèn đúc thêm súng đạn trước khi tính kế lâu dài.”

Tin tức hòa hoãn như làn gió ấm thổi bùng niềm vui khắp bản doanh. Ngay trưa hôm ấy, đường mòn tiếp tế từ vùng đồng bằng Thanh Hóa được khai thông hoàn toàn. Từ trên vách đá nhìn xuống, từng đoàn xe trâu, xe cút kít chở đầy thóc gạo, ngô sắn và những gùi muối mỏ trắng tinh bắt đầu rầm rộ tiến lên căn cứ.

Cảnh tượng ba lần tuyệt lương nghiệt ngã, những tháng ngày đào củ mài xơ xác ruột gan và nỗi đau phải giết cả voi chiến, ngựa chiến để cầm hơi nay đã vĩnh viễn chấm dứt.

Giữa niềm hân hoan của ba quân, Thiệu khẽ nhắc “Thưa Tướng quân, chúng ta còn một lời thề danh dự chưa vẹn toàn. Nếu không có cô Nhâm dẫn lối vào động Cổ Lũy tìm mỏ diêm tiêu ngàn năm, hỏa doanh khó lòng làm nên kỳ tích.”

Đinh Lễ gật đầu dứt khoát “Lời hứa với dân bản nặng tựa ngàn cân, Lam Sơn tuyệt đối không bội ước!”

Vị tướng quân lập tức điều một phân đội mười trinh sát tinh nhuệ, chất đầy hai cỗ xe thóc gạo cùng muối hạt đưa về che chở cho đồng bào bản Nưa an cư lạc nghiệp.

Nang Nhâm đứng bên bậu cửa lán, trên lưng vẫn mang gùi tre và nỏ săn, nở nụ cười nhẹ nhõm trên gương mặt rám nắng. Nàng bước lại gần Thiệu và Đinh Lễ, cất giọng trầm ấm “Lối vào động Cổ Lũy là linh hồn của núi rừng. Giờ đây giặc đã lui, cháu xin cùng bác Thiệu và chú Vạn trở lại hốc đá, dùng đá tảng và giàn nứa ngụy trang niêm phong vĩnh viễn cửa hang, gìn giữ nguồn diêm tiêu vô giá cho các chiến dịch dài lâu của nghĩa quân.”

Thiệu mỉm cười gật đầu, lòng tràn ngập sự cảm phục trước tấm lòng thơm thảo của người con gái Mường.

Nắng trưa rực rỡ chan hòa khắp đỉnh Chí Linh. Đứng bên mép dốc nhìn đoàn xe lương thảo đầu tiên cuộn bụi lăn bánh vào doanh trại giữa tiếng reo hò rộn rã của những người lính từng đói lả, Bàng Khắc Thiệu hít một hơi sâu luồng gió mát lành đượm mùi nhựa trám.

Đôi bàn tay thô ráp đầy vết bỏng của người thợ già khẽ siết lại trên thẻ lệnh bài đồng. Nhìn khói bếp nhóm lên từ các góc trại, Thiệu biết thời khắc hòa hoãn quý giá đã đến để ông dốc cạn tâm huyết, biên soạn trọn vẹn cuốn bí kíp luyện hỏa truyền lại cho Đỗ Vạn cùng thế hệ thợ trẻ mai sau.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.