Chương 2: Văn Tự Bến Sông

Chu Vĩnh Triết giật mình trước tiếng gốm vỡ chát chúa. Chàng vội bước tới góc cột cái, cúi người dọn những mảnh men ngọc văng tung tóe trên nền gạch tàu. Vệt nước trà vàng óng còn bốc khói nhè nhẹ, loang lổ nơi mũi hài nhung của Lại Bá Hào và vạt áo the của chú Ba Khiêm. Ngước lên, Triết thấy gương mặt gầy guộc của người chú họ trắng bệch, hai bàn tay co rúm giấu vội vào tay áo, tròng mắt đờ đẫn dán vào tráp bạc trên bàn lim.

— Chú Ba cẩn thận kẻo giẫm phải mảnh vụn. — Triết khẽ nhắc, hai tay gom gọn mảnh vỡ vào khay gỗ.

Khiêm giật mình, lúng túng lùi lại nửa bước, giọng the thé gượng gạo — Chú… chú sơ ý. Gió ngoài sông thốc mạnh quá…

Tiếng cười khẩy trơn tuột của Lại Bá Hào vang lên — Khách làm vỡ chén, âu cũng là điềm bể gãy cái cũ đón cái mới, tài lộc dồi dào đấy thôi! Cụ Cố chớ bận lòng.

Ngoài ngõ vang lên tiếng guốc gỗ gõ nhịp đều đặn. Lý trưởng Phan Đăng Khôi phe phẩy chiếc quạt trúc ngà bước vào, áo the xanh chỉnh tề, chắp tay hướng về phía án thư — Bản chức nghe tin thương thuyền Vạn Hưng cập bến nên sang ngay. Kính chào Cụ Cố Tiên chỉ, chào Lại chưởng quầy! Nghe nói đôi bên chuẩn bị định đoạt việc lớn của làng nghề ven sông?

Cụ Chu Hoài Cảnh khẽ gật đầu, vỗ nhẹ đầu gậy tre ngà — Ông Lý đến thật đúng lúc. Mời ông an tọa làm chứng cho giao kết giữa họ Chu và thương quán Vạn Hưng.

Triết bưng khay trà sen mới dâng lên bàn, rồi đứng nghiêm cẩn bên cạnh ghế cụ Cố. Trái tim chàng trai hai mươi mốt tuổi rộn lên từng hồi. Đứng trước hàng chục bài vị tổ tiên sơn son thếp vàng, chàng chắt đích tôn cảm nhận rõ sức nặng nghìn cân đang đè lên vai mình.

Lại Bá Hào thong thả rút từ tay áo ra cuộn giấy bản dày dặn, trải rộng lên mặt bàn lim phẳng lì.

— Thưa Cụ Cố, thưa ông Lý, giấy trắng mực đen đã sẵn. — Hào hắng giọng, ngón tay gõ nhẹ lên từng dòng chữ. — Giao kèo ghi rõ: Thương quán Vạn Hưng đặt mua đúng hai trăm tạ đường phèn loại một do lò Cảnh Ký chế tác. Đường phải trong suốt như ngọc thạch, giòn tan, không gợn cặn bẩn hay váng chua. Đúng hai mươi ngày tính từ giờ Mão hôm nay, hai trăm tạ đường phải chuyển đủ tới kho bến cảng Thu Xà để kịp chất lên tàu buôn Nam Kỳ.

Triết chăm chú lắng nghe, lồng ngực phập phồng. Hai mươi ngày cho hai trăm tạ đường phèn, trừ chín ngày chín đêm ủ lu kết tinh, thời gian đun vạc lắng lọc chỉ vỏn vẹn mười ngày đêm ròng rã. Đây là thử thách nghiệt ngã chưa từng có đối với bất kỳ thợ nấu đường nào dọc triền sông Trà.

Ngón tay Lại Bá Hào trượt xuống dòng chữ cuối, nụ cười giả lả vụt tắt — Đổi lại, thương quán trả giá cao hơn lệ thường ba phần, trao trọn tráp bạc hoa xòe này làm tiền cọc. Ngược lại, nếu trễ hạn dù chỉ một ngày, hoặc đường giao ra vẩn đục, gãy tơ không đạt chuẩn ngọc thạch… lò Cảnh Ký phải đền gấp ba tiền cọc. Bằng không, họ Chu phải đem ba sào đất hương hỏa bến sông ra cấn trừ sòng phẳng!

Ba sào đất hương hỏa bến sông!

Mấy chữ ấy như sét đánh ngang tai khiến Triết bàng hoàng. Chàng siết chặt hai nắm tay, mắt nhìn trân trân vào tờ giấy bản. Ba sào đất bồi ven sông Trà Khúc không chỉ là nương mía tươi tốt nuôi sống gia tộc, mà còn là nơi cha và ông nội chàng đổ mồ hôi khai khẩn, là huyết mạch bến bãi tổ tiên truyền lại suốt trăm năm. Đem đất tổ ra cấn nợ, há chẳng phải là tội đồ làm tiêu tán cơ nghiệp tiền nhân?

Giữa lúc Triết còn nghẹn thở, Chu Thúc Khiêm xăm xăm bước tới, chắp tay cúi rạp trước Lại Bá Hào rồi quay sang cụ Cảnh, giọng hấp tấp — Úi chao ôi, Lại huynh hào sảng quá đỗi! Trả giá hơn ba phần lại đưa bạc ròng tận tay, thật là phúc phận của họ Chu ta. Ngặt nỗi… Nội ơi, cháu thấy điều khoản này ngặt nghèo quá! Hai trăm tạ đường đâu phải chuyện chơi. Thằng Triết mới hai mươi mốt tuổi, tay quấy vạc chưa dạn dày sương gió, lỡ non tay làm hỏng tơ đường thì ba sào đất của tổ tiên trôi sông trôi biển mất!Khiêm liếc tráp bạc sáng loáng, yết hầu giật giật, giọng hạ thấp nài nỉ — Theo ý cháu, mẻ đường này chi thứ phải cùng gánh vác. Thằng Triết còn trẻ, chỉ nên phụ quấy lò khiêng củi. Còn việc coi sóc kho trữ mật mía, điều phối người làm và giữ tráp tiền cọc hoa xòe, Nội cứ giao trọn cho cháu. Có cháu đứng mũi chịu sào, việc lớn mới mong xuôi chèo mát mái!

Từng lời của chú Ba như chĩa thẳng vào lòng tự trọng của Triết. Chàng thấy rõ ánh mắt né tránh nhưng đầy toan tính vụ lợi của người chú họ. Nỗi phẫn uất bùng lên nơi đáy ngực, nhưng Triết cố nén lại, hít một hơi sâu để giữ vẻ bình thản, chững chạc.

Chàng bước lên, quỳ một gối trước cụ Cố và hướng về bàn thờ tổ tiên, hai tay ôm quyền khảng khái — Thưa Cố, thưa ông Lý và chú Ba! Chắt tuy tuổi đời còn trẻ, nhưng từ thuở lên mười đã theo chân ông nội và cha nhóm lửa vạc đồng. Từng giọt mật, từng cọng tro rơm nếp của lò Cảnh Ký đã thấm vào máu thịt của chắt. Chắt xin thề trước bài vị tổ tiên và uy danh của Cố: nếu chắt không nấu thành công hai trăm tạ đường phèn trong suốt như ngọc thạch, đúng hẹn hai mươi ngày giao tại Thu Xà, chắt xin chịu gia pháp họ Chu, đời này không bước chân vào từ đường nữa! Xin Cố hãy tin tưởng nơi chắt!

Lời thề đanh thép vang vọng giữa gian nhà rường, khiến Lý trưởng Phan Đăng Khôi gật đầu tán thưởng — Khí phách lắm! Quả không hổ danh chắt đích tôn của Cụ Tiên chỉ họ Chu.

Cụ Chu Hoài Cảnh ngồi tĩnh lặng trên ghế mây, tay khô gầy đặt nhẹ trên đầu gậy tre ngà. Cụ không nhìn tráp bạc, cũng chẳng nhìn vẻ bồn chồn của Khiêm, mà đưa đôi mắt mờ đục nhìn sâu vào gương mặt kiên nghị của Triết. Trong gian phòng đượm mùi trầm hương, giọng cụ Cố cất lên, trầm ấm và dứt khoát — Thằng Triết nói phải. Nhà có nóc, họ có tông, chi trưởng giữ vạc là nếp nhà trăm năm nay không thể đảo lộn. Người đứng lò phải có tâm sáng, lòng không vướng bụi trần thì nước mật mới lắng trong thành ngọc thạch. Mẻ đường đại sự này, ta trao trọn quyền giữ vạc và điều phối lò Cảnh Ký cho thằng Triết.

Cụ dừng lại một nhịp, nhìn Thúc Khiêm bằng ánh mắt bao dung nhưng nghiêm nghị — Còn Khiêm, con là vai chú, hãy lo liệu phần tiếp tế củi khô, phụ giúp cháu nó trông nom bến bãi cho tròn phận sự. Đừng để lòng tham làm mờ mắt, rồi tự rước vạ vào thân.

Chu Thúc Khiêm khựng lại, mặt xám ngoét, chỉ biết lí nhí dạ vâng rồi lùi dạt sang bên.

Dưới sự chứng kiến của Lý trưởng Phan Đăng Khôi, cụ Cảnh điểm chỉ vào bản văn tự, Lại Bá Hào cũng đóng dấu mộc đỏ của thương quán Vạn Hưng. Mực vừa ráo, cụ Cảnh gọi bà Chu Thị Lành ra, từ tốn dặn dò — Con Lành, cầm lấy bản giao kèo gốc này, cất kỹ vào rương gỗ mít nơi gian thờ tổ tiên cho cha. Khóa cẩn thận, không có lời ta thì không ai được phép đụng tới.

Bà Lành cung kính đỡ lấy cuộn giấy, khẽ cúi đầu — Dạ thưa cha, con xin vâng.

Việc ký kết hoàn tất, Lại Bá Hào cười giả lả đứng dậy cáo từ. Triết theo chân cụ Cố tiễn khách ra tận bờ sông Trà Khúc. Nắng sớm trải vàng trên nương mía bãi bồi, ngọn gió từ cửa sông thổi về lồng lộng mang theo vị mặn mòi từ biển.

Trong lúc phu thuyền tháo dây chão chuẩn bị nhổ sào, Triết vô tình quay sang rặng tre cạnh bến nước. Giữa đám lá xào xạc, chàng bỗng khựng người khi thấy Lại Bá Hào tiến sát Chu Thúc Khiêm. Bằng động tác nhanh như chớp, bàn tay phốp pháp của tay chưởng quầy kín đáo dúi vào tay chú Ba một mảnh giấy điều đỏ gập tư, kèm theo cái nháy mắt đầy ẩn ý và nụ cười sắc lạnh.

Chú Ba Khiêm vội vã siết chặt bàn tay, giấu biến mảnh giấy đỏ vào sâu trong bọc áo the, mắt lấm lét nhìn quanh như sợ có kẻ bắt gặp.

Chiếc thuyền nan rẽ sóng lao vút ra giữa dòng sông Trà, để lại những vệt nước xoáy cuộn trào. Triết đứng sững bên bờ phù sa, nhìn theo bóng thuyền xa dần mà lòng dấy lên từng đợt sóng bất an cồn cào.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.