Chương 7: Nỗi Oan Bên Vách Nứa
Hoài Nam hạ chiếc điện thoại xuống, lồng ngực như bị đè nặng bởi một khối đá tảng. Trong không gian ẩm lạnh của căn hầm lưu trữ bệnh viện, anh nhìn sang Lan Chi. Nữ bác sĩ pháp y vẫn đang cẩn thận lồng tấm phim Xquang cung hàm vào phong bì bảo quản tài liệu, đôi mắt ánh lên niềm đồng cảm sâu sắc. Mọi manh mối đã khớp nối hoàn hảo: nạn nhân không thể là kẻ phản bội ôm tiền trốn chạy, mà là một con người đã ngã xuống trong thầm lặng, ôm theo nỗi oan khiên suốt bảy năm ròng.
Ngay chiều hôm ấy, bản kết luận giám định pháp y tổng hợp được hoàn tất với chữ ký của Lan Chi và dấu đỏ xác nhận của phòng Kỹ thuật Hình sự. Tài liệu khẳng định dứt khoát: tổn thương nứt lún dạng lòng chảo ở xương chẩm hình thành do ngoại lực cơ học tác động từ phía sau trước lúc chết, là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tử vong; kết hợp cùng đặc điểm khối can xương hàm dưới bên trái trùng khớp hoàn toàn với hồ sơ bệnh án số 412 của kỹ sư Nguyễn Minh Tuấn.
Căn cứ vào tài liệu giám định chấn thương học và chứng cứ nhân trắc học không thể chối cãi, sáng hôm sau, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã chính thức đặt bút ký Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội Giết người. Cánh cửa tố tụng mở toang, trao quyền cho Hoài Nam cùng Đội Trọng án triển khai toàn diện các biện pháp nghiệp vụ để vạch trần tội ác.
Cầm quyết định khởi tố còn thơm mùi mực trên tay, việc đầu tiên Hoài Nam nghĩ tới là tìm về gia đình nạn nhân. Khi anh ghé qua xưởng Cầu Đất để thông báo tình hình, cụ Khang đã lặng lẽ khoác chiếc áo dạ sờn màu, tay cầm chiếc gậy gỗ mun quen thuộc đứng đợi bên thềm.
“Thầy cùng đi với cậu,” cụ Khang nói, giọng trầm và dứt khoát. “Thầy đã nắn lại gương mặt của cậu Tuấn, thầy nợ mẹ cậu ấy một lời chào trước khi đưa bức tượng về.”
Chiếc xe chuyên dụng của đội điều tra vượt hơn trăm cây số, đưa hai thầy trò rời khỏi cao nguyên sương mù, xuôi theo những con đèo dốc uốn lượn để về huyện Đạ Tẻh. Cơn mưa rừng cuối mùa khiến đoạn đường đất đỏ dẫn vào bìa rừng xã Đạ Kho trở nên lầy lội, trơn trượt như đổ mỡ. Bánh xe quay tít, chồm qua những hố bùn sâu hoắm trước khi dừng lại trước một con ngõ nhỏ heo hút, cỏ dại mọc lút đầu gối.
Nằm chơ vơ bên bìa rừng keo xao xác là một căn nhà vách nứa xiêu vẹo, mái lợp lá trung quân đã mục nát nhiều chỗ, được chắp vá tạm bợ bằng những tấm bạt dứa rách tả tơi. Chung quanh tuyệt nhiên không một bóng người qua lại. Cả một khoảng không gian ngột ngạt sự xa lánh và ghẻ lạnh.
Hoài Nam bước tới trước liếp cửa nứa đan lỏng lẻo, khẽ cất tiếng gọi “Bác Hạnh có nhà không ạ?”
Bên trong gian nhà tối tăm vang lên tiếng bước chân chậm chạp, ngập ngừng cùng tiếng ho khan khô khốc. Cánh cửa liếp khẽ kẽo kẹt mở ra. Một người đàn bà bước ra bậu cửa.
Hoài Nam không khỏi thắt lòng khi nhìn thấy bà Lê Thị Hạnh. Người mẹ mới sáu mươi lăm tuổi mà trông như đã ngoài bảy mươi, lưng còng rạp xuống, mái tóc bạc trắng xơ xác búi củ hành sau gáy. Đôi mắt bà đùng đục ngấn nước, viền mi đỏ hoe vì những đêm dài khóc thương con suốt bảy năm ròng rã. Chiếc áo bà ba nâu bạc phếch vá chằng vá đụp run lên bần bật khi bà nhìn thấy sắc phục cảnh sát của Hoài Nam.
“Các chú... lại đến đòi tiền sao?” Giọng bà Hạnh run rẩy, lạc đi vì sợ hãi. “Tôi... tôi già yếu, chỉ làm mướn cạo mủ cao su kiếm vài đồng qua ngày, không có hai tỷ mấy để trả cho công ty đâu...”
Cụ Khang bước lên một bước, ánh mắt đượm vẻ xót xa. Ông cởi chiếc mũ nồi, cúi đầu chào bằng giọng ấm áp, thân tình “Chào bà. Chúng tôi là người của cơ quan điều tra, nhưng không phải đến đòi tiền. Tôi là Khang, cựu giáo viên, còn đây là Thượng úy Hoài Nam. Chúng tôi đến vì cháu Tuấn.”
Nghe thấy tên con trai, đôi bàn tay gầy guộc đầy vết chai sần của bà Hạnh bỗng khựng lại giữa không trung. Bà ngước nhìn hai người khách lạ, đôi môi thâm run bần bật rồi vội vã nghiêng người mời khách vào nhà.Gian nhà trống hoác, gió luồn qua từng khe nứa lạnh ngắt. Đồ đạc giá trị nhất chỉ là chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách và một chiếc ấm nhôm sứt quai. Bà Hạnh lập cập rót hai bát nước chè xanh mời khách, nước chè sóng sánh rớt ra mặt bàn gỗ tạp bởi bàn tay bà run rẩy không sao kìm lại được.
“Bảy năm rồi...” Bà Hạnh ngồi sụp xuống mép chõng, lấy vạt áo lau nước mắt đang trào ra nơi khóe mi nhăn nheo. “Bảy năm nay, cái làng này coi mẹ con tôi như quân trộm cướp. Đêm bão năm đó, đê vỡ, nước tràn ngập trắng cả cánh đồng lúa, trôi sạch bao nhiêu ao cá của bà con. Người ta khóc than, rồi người ta kéo đến đây chửi bới, nguyền rủa, ném đá vào mái nhà này. Họ bảo thằng Tuấn ăn tiền đút lót, rút ruột công trình rồi ôm hai phẩy bốn tỷ trốn biệt tích để bà con chịu khổ...”
Cụ Khang thở dài, đôi bàn tay gân guốc nhẹ nhàng đặt lên mu bàn tay run rẩy của người mẹ già “Bà cứ bình tĩnh, hãy kể cho chúng tôi nghe về cháu Tuấn.”
Bà Hạnh nghẹn ngào, ánh mắt hướng về phía góc nhà, nơi có chiếc bàn thờ tổ tiên mộc mạc chỉ đặt một bát hương bằng sành cũ kỹ, tuyệt nhiên không có di ảnh hay bài vị “Thằng Tuấn mồ côi cha từ lúc lên ba. Một tay tôi làm thuê làm mướn nuôi nó ăn học thành tài. Từ tấm bé, nó đã là đứa ngay thẳng, thấy củ khoai người ta đánh rơi ngoài đường cũng nhặt trả lại, chưa từng tơ hào của ai một đồng. Làm sao nó có thể ôm tiền bỏ trốn cho đành lòng hả các chú? Tôi không lập bàn thờ cho nó, vì tôi không tin con tôi đã chết mang theo tiếng xấu muôn đời như thế!”
Bà Hạnh bỗng đứng dậy, run rẩy bước tới trước bàn thờ gia tiên, hai tay chắp lại, giọng bà vang lên đầy vẻ kiên trinh “Trước vong linh tổ tiên họ Nguyễn, tôi thề con trai tôi không bao giờ là kẻ phản phúc! Đêm mười tháng mười năm đó, trời mưa gió gầm rú như muốn xé toang núi rừng. Khoảng gần chín giờ tối, thằng Tuấn vẫn còn gọi điện thoại bàn về cho tôi. Nó bảo: ‘Mẹ nhớ chèn lại mái tranh, mặc thêm áo ấm kẻo gió lạnh ngấm vào xương. Con đang ở trạm quan trắc đê bao’. Trong điện thoại, nó nói với tôi bằng giọng đanh thép lắm: ‘Mẹ ơi, con phát hiện người ta trộn cát bẩn rút ruột bê tông thân đê phụ, nguy cơ vỡ đê là rất lớn. Giám đốc ép con ký nghiệm thu, nhưng con nhất quyết không ký. Con thà mất việc chứ không thể để hàng nghìn người dân vùng hạ lưu chịu cảnh tang thương’. Nó vừa dứt lời thì nghe tiếng quát tháo của ai đó ngoài lán trại, rồi cuộc gọi đột ngột ngắt ngang...”
Bà Hạnh gục đầu vào mép bàn thờ, hai vai rung lên từng chập theo tiếng khóc xé ruột xé gan “Đó là lời cuối cùng con tôi nói với mẹ. Sau đêm đó, đê vỡ, và người ta bảo nó ôm tiền trốn mất. Đứa con trai dám vì tính mạng của dân làng mà chống lại cấp trên, sao có thể là kẻ cắp?”
Hoài Nam siết chặt hai bàn tay lại, các khớp ngón tay trắng bệch vì phẫn nộ. Lời kể chân thực đẫm nước mắt của người mẹ hoàn toàn khớp với mốc thời gian và những dấu vết cơ học trên hộp sọ: Tuấn không hề bỏ trốn, anh đã kiên quyết từ chối ký biên bản gian dối và bị sát hại để bịt miệng ngay trong đêm định mệnh ấy.
Cụ Khang đứng lặng, đôi mắt sau cặp kính lão rực lên ánh sáng bao dung nhưng kiên định lạ thường. Ông khẽ gật đầu với Hoài Nam.
Nhìn tấm lưng còng gầy guộc của người mẹ già suốt bảy năm ròng sống trong cay đắng, khóc cạn nước mắt để bảo vệ phẩm giá cho đứa con trai duy nhất, Hoài Nam thấy một luồng nhiệt nóng rực dâng tràn nơi lồng ngực. Anh bước lại gần bà Hạnh, giọng nói trầm ấm mà đanh thép “Bác Hạnh, bác hãy vững tin. Chúng cháu sẽ trả lại sự trong sạch và danh dự cho anh Tuấn.”
Ngay trong khoảnh khắc ấy, Thượng úy Trịnh Hoài Nam siết chặt nắm tay, hạ quyết tâm trong lòng: anh sẽ lập tức đưa bức tượng phục dựng bằng đất sét từ xưởng Cầu Đất về đây, để người mẹ già tận mắt nhìn thấy lại hình hài đứa con trung thực của mình.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
