Chương 7: Thuật Xem Lửa
Cát Vĩnh Hòa vội vã rảo bước qua khoảng sân đá, đỡ lấy cánh tay run rẩy của Lê Mai. Đôi mắt cụ dừng lại nơi ống chân trái của cô gái trẻ, nơi lớp vải gai đã rách toang, để lộ mảng da đỏ ửng đang rịn nước vàng vì kiềm ăn mòn.
"Được rồi, cháu làm tốt lắm. Để tảng quặng xuống đi." Cụ Hòa trầm giọng, ánh mắt ngập tràn vẻ xót xa. Cụ khẽ quay sang người thợ trẻ đang đứng th* d*c bên cạnh: "Thạch, lấy cho tôi gáo nước quả chua sa mạc và mảnh vải sạch trong hòm đồ nghề ra đây."
Thạch lập tức quay gót chạy đi rồi mang lại chiếc âu đất đựng thứ nước chua sánh màu hổ phách. Cụ Hòa quỳ một chân xuống nền đá vôi xám, đôi bàn tay thô ráp vốn quen ghì cán gáo sắt nay trở nên nhẹ nhàng lạ thường. Cụ nhúng dải vải sạch vào âu nước, cẩn trọng lau từng vệt kiềm loãng còn sót lại quanh mép vết thương. Tiếng xèo khẽ bốc lên cùng làn khói mỏng cay nồng khiến khóe mắt Mai giật mạnh, nhưng cô chỉ mím chặt môi, không hề thốt ra một tiếng r*n r*.
"Axit hữu cơ yếu sẽ trung hòa nốt dư lượng bazơ trên da thịt," cụ Hòa vừa chấm nhẹ lớp vải vừa chậm rãi dặn dò. "Bỏng kiềm thẩm thấu sâu hơn bỏng lửa rất nhiều, nếu không rửa sạch đến tận chân lông, mô mỡ sẽ tiếp tục bị xà phòng hóa. Cháu phải ngồi nghỉ ở góc hang này, để chân gác cao lên bao cát khô. Chuyện phối liệu cứ chỉ dẫn cho Thạch, tuyệt đối không được đi lại khập khiễng mà rách thêm miệng vết thương."
Mai khẽ gật đầu, đưa tay quệt giọt mồ hôi lạnh rịn ra trên trán: "Cháu biết rồi, ông Hòa. Vết này chỉ sượt qua ngoài da thôi, chưa ăn sâu vào bắp thịt đâu ạ."
Chờ cụ Hòa băng bó gọn gàng bằng dải băng vải khô, cô gái chỉ tay về phía ba bao tải hạt khoáng vừa được dỡ xuống cạnh thềm lò. Đôi mắt sáng thông minh của cô rực lên niềm say mê thường trực "Thạch, lại đây nghe tôi dặn tỷ lệ phối trộn. Muốn ngói trơ tuyệt đối trước dòng kiềm mười bốn độ pH, chúng ta không thể nấu theo lối thủy tinh thông thường."
Thạch bước tới gần, nén cơn đau nhức từ vết thương vừa toác máu nơi bắp tay phải, kéo theo chiếc cân đòn bằng gỗ nghiến và các xô sắt gỉ. Anh chăm chú lắng nghe, ánh mắt không rời từng cử chỉ của Mai.
"Xương ngói cốt lõi vẫn là cát thạch anh trắng tinh khiết, chiếm bảy phần," Mai cầm một nắm cát trắng mịn giơ lên trước ánh đèn dầu, để từng hạt silic tinh khiết chảy qua kẽ tay. "Nhưng cát nguyên chất đòi hỏi nhiệt độ nóng chảy quá cao. Do đó, phần tro kiềm kali mà các cô bác sàng lọc hôm qua sẽ đóng vai trò chất trợ dung, chiếm một phần rưỡi để hạ điểm nóng chảy của khối silicat. Thêm vào đó nửa phần khoáng borat để giảm độ giãn nở nhiệt."
Cô dừng lại một nhịp, đưa tay vỗ nhẹ lên tảng quặng zirconi màu xám đậm "Điều then chốt nhất nằm ở một phần quặng này. Nghiền vụn quặng thành bột mịn như bột gạo, sàng qua ba lớp vải gai rồi trộn đều vào hỗn hợp. Khi gặp nhiệt độ đỉnh điểm, zirconi dioxit sẽ phân tán đều khắp mạng lưới silicat borat, tạo thành một màng oxit trơ vĩnh cửu. Dù mưa kiềm đậm đặc trút xuống bao nhiêu đêm ngày, ion hydroxit cũng không tài nào phá vỡ được liên kết ấy."
"Rõ rồi!" Thạch gật đầu dứt khoát. Chàng thanh niên lập tức ngồi thụp xuống bên cối đá, vung chày nghiền từng mẩu quặng zirconi xám. Tiếng chày giã đá vang lên thậm thịch, đều đặn như nhịp đập của một trái tim bền bỉ giữa lòng vách đá.
Trong khi hai người trẻ bận rộn với các xô phối liệu, cụ Cát Vĩnh Hòa lặng lẽ bước đến chiếc bàn gỗ kê sát vách buồng đốt. Trên mặt bàn là khối đất sét chịu lửa màu xám tro đã được cụ nhào kỹ với bột samốt mịn từ sáng sớm.
Bằng những ngón tay chai sần chằng chịt vết sẹo bỏng nhiệt, cụ Hòa nặn đất sét thành từng khối hình chóp tam giác thuôn dài, đáy rộng chừng ngón tay cái, cao hơn hai đốt tay. Cụ dùng lưỡi dao con gọt giũa từng cạnh nón với một độ nghiêng tiêu chuẩn cực kỳ chuẩn xác. Đó là những chiếc nón đo nhiệt pyrometric tự chế — công cụ đo lường bất di bất dịch của những người thợ lò cổ truyền.
Cụ Hòa cẩn thận mang ba chiếc nón đất sét bước vào lòng buồng đốt vòm cuốn. Dưới ánh sáng lờ mờ hắt qua cửa lò, cụ đặt chiếc nón thứ nhất ở gần miệng ống bễ gió, chiếc thứ hai ở chính giữa sàn đặt nồi nấu silicat, và chiếc thứ ba ngay sát ô cửa quan sát bằng thạch anh."Thạch, vào đây." Cụ Hòa cất tiếng gọi trầm ấm.
Thạch đặt chày nghiền xuống, bước nhanh vào cửa vòm, cúi đầu nhìn những khối đất sét nhỏ bé nằm im lìm trên nền gạch samốt: "Thưa thầy, mấy khối đất này để làm gì ạ? Cháu tưởng đo nhiệt thì phải dùng đồng hồ kim loại hay ống thủy ngân chứ?"
Cụ Hòa khẽ mỉm cười, đôi mắt ánh lên nét trầm tĩnh của một đời từng trải qua bao lò lửa "Ở nhiệt độ một nghìn bốn trăm năm mươi độ C, chẳng có thứ nhiệt kế cơ học nào chịu nổi. Thép non cũng chảy thành nước, thủy ngân thì bốc hơi từ lâu. Người thợ nấu thủy tinh chỉ có thể trông cậy vào đất sét và đôi mắt của chính mình."
Cụ đưa ngón tay trỏ chỉ vào đỉnh chiếc nón đất đặt ở trung tâm "Đây là nón đo nhiệt pyrometric. Đất sét pha samốt này được tính toán độ ngót chuẩn xác. Khi ngọn lửa đạt đến ngưỡng nhiệt độ tương ứng, đỉnh nón sẽ mềm dần và cong gập đầu xuống. Khi đỉnh nón uốn cong chạm đúng góc chuẩn sát mặt sàn lò, đó là lúc chất lỏng silicat zirconi đạt đến độ chín muồi hoàn hảo để rót khuôn."
Cụ Hòa dẫn Thạch bước ra ngoài cửa lò, kéo sập cánh cửa sắt lót gạch chịu lửa xuống, chỉ chừa lại một khe nhìn hẹp gắn phiến thạch anh trong suốt.
"Bài học đầu tiên và thiêng liêng nhất của nghề lò không nằm ở sức cơ bắp, mà nằm ở thuật xem lửa," cụ Hòa nhìn thẳng vào mắt người học trò trẻ, giọng nói từ tốn mà uy nghiêm. "Lửa có linh hồn, và màu sắc của nó chính là tiếng nói. Khi mới nhóm, lửa mang sắc đỏ sẫm của than ổi, nhiệt độ chỉ chừng sáu trăm độ. Khi củi bén đều và ống bễ tăng nhịp, ngọn lửa chuyển sang đỏ cam rồi vàng rơm, đạt khoảng một nghìn độ. Nhưng chừng đó mới chỉ đủ nung gạch ngói đất nung thông thường."
Cụ Hòa dừng lại, ánh mắt rực sáng sau cặp kính bảo hộ nứt góc "Muốn cát thạch anh và quặng zirconi chảy lỏng hòa quyện thành dòng ngọc trong suốt, cháu phải dập bễ liên tục, dồn phong nhiệt đến khi ngọn lửa chuyển từ vàng rơm sang màu trắng lóa rực rỡ tựa như ánh mặt trời giữa trưa hè. Thấy sắc trắng chói lòa ấy, kết hợp với đỉnh nón đất sét cong rạp, mới là lúc hỏa hầu đạt đỉnh điểm một nghìn bốn trăm năm mươi độ. Nhìn sai một sắc lửa, nhanh một nhịp thì ngói rỗ bọt khí, chậm một nhịp thì khối nấu đóng xỉ cháy khét. Mạng sống của ba trăm hai mươi con người ở Vực Xanh nằm cả trong đôi mắt nhìn lửa của cháu đấy."
Thạch nuốt khan một ngụm nước bọt, hai vai khẽ rung lên vì sức nặng của trách nhiệm. Anh siết chặt hai nắm tay, trịnh trọng cúi đầu trước cụ Hòa: "Cháu nhớ từng lời thầy dạy rồi ạ."
Hỗn hợp phối liệu sau khi trộn đều được trút vào chiếc nồi nấu bằng gốm chịu nhiệt dày dặn, cẩn thận đặt vào bệ trung tâm buồng đốt. Cụ Hòa đích thân châm mồi lửa từ thanh củi gộc khô kiệt ném vào buồng đốt dưới đáy lò.
Phụt!
Ngọn lửa sơ khởi bùng lên reo vui, l**m láp những thanh củi gộc đầu tiên. Khói xám cuộn lên rồi nhanh chóng bị luồng gió đối lưu hút thẳng vào ống khói thông ra sườn núi đá vôi. Tiếng gỗ nổ lép bép hòa cùng tiếng gió rít qua khe cửa lò bắt đầu vang vọng khắp góc hang đông. Chu kỳ gia nhiệt chậm rãi nhằm sấy khô buồng đốt và nâng cao hỏa hầu chính thức khởi động.
Thạch đứng tựa bên khung sắt của ống bễ, ghé sát mặt vào khe quan sát thạch anh. Qua lớp kính mờ, ánh lửa đỏ cam bập bùng nhảy múa, hắt lên gương mặt vuông vức lấm lem bùn đất và tro than của anh. Trong đôi mắt mở to bồn chồn của người thợ trẻ, ngọn lửa đỏ rực phản chiếu sắc nét nỗi âu lo thắt nghẹn, khi chiếc bóng thời gian của hạn định bảy ngày tàn độc từ Hoàng Mậu đã trôi qua hơn một nửa.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
