Chương 5: Dựng Lại Lò Cũ
Nụ cười nham hiểm cùng con mắt độc nhất sáng quắc của Bùi Tuất như ghim chặt vào gáy Đặng Thạch. Lồng ngực anh thắt lại, cánh tay phải quấn băng vải thô khẽ siết chặt thân đòn gánh tre. Gã gian thương vẫn tựa lưng vào hốc đá tối tăm phía sau Hoàng Mậu, ngón tay khẽ gõ lách cách lên chiếc vòng kim loại bên hông như đang đếm ngược từng khắc sinh tồn của tiền đồn. Nhưng trước khi cơn giận kịp bốc l*n đ*nh đầu Thạch, bàn tay gầy guộc chằng chịt sẹo bỏng của cụ Cát Vĩnh Hòa đã đặt lên vai anh, siết nhẹ.
"Đừng để mắt đến kẻ đứng trong bóng tối, Thạch," giọng cụ Hòa trầm lắng nhưng chắc nịch như phiến đá vôi. "Bảy ngày của chúng ta bắt đầu từ hơi thở này. Đi gom anh em lại, dọn lò!"
Cái gật đầu của người thầy già xua tan cơn phẫn uất trong lòng chàng trai trẻ. Thạch hít sâu một luồng không khí cay nồng mùi tro kiềm, quay ngoắt người rảo bước về phía các ngách hang tị nạn. Giọng anh vang rền, khỏe khoắn xuyên qua những vòm đá "Anh em xóm thợ đâu! Ai còn sức, cầm xẻng cuốc theo tôi ra vách đông!"
Chỉ mươi phút sau, hơn chục thanh niên trai tráng từ các xưởng mộc, đội bốc vác và lò rèn đã tề tựu. Họ kéo theo ba cỗ xe ba gác cũ kỹ hướng thẳng về phía chân vách đá phía đông của Vực Xanh. Nơi đây là khu phế tích lò nung vòm cuốn bị bỏ hoang từ hơn chục năm trước, đất đá sạt lở lấp gần nửa cửa buồng đốt, mạng nhện và rêu phong khô khốc phủ dày trên những mảng tường gạch nứt toác.
"Dọn sạch đống xà bần này trước!" Thạch hô lớn, xắn tay áo bên cánh tay lành lặn rồi lao vào bốc những tảng đá vôi đổ sụp.
Tiếng xẻng sắt va vào đá tảng ken két. Bụi mù bốc lên cay xè hai mắt, nhưng không một ai nề hà. Bắp tay Thạch gồng cứng, từng thớ cơ căng mọng dưới lớp da ngăm đen bóng nhẫy mồ hôi. Vết bỏng kiềm ở bắp tay phải nhói buốt mỗi khi anh nâng một khối đá nặng, nhưng hình ảnh bả vai lở loét của bé Út tại trạm xá lại thôi thúc anh dốc cạn sức lực.
Cụ Hòa bước vào lòng lò khi đống gạch vụn vừa được dọn quang. Chiếc bay sắt trên tay cụ khẽ gõ vào từng hàng gạch xây vòm cuốn. Âm thanh đục vang báo hiệu kết cấu bên trong. Cụ cúi người, nhặt lên một viên gạch màu vàng sẫm có bề mặt ráp mịn, đưa lên sát cặp kính bảo hộ nứt góc.
"Thạch, dặn anh em lựa kỹ," cụ Hòa quay lại, chỉ ngón tay chai sạn vào cấu trúc viên gạch. "Chỉ giữ lại loại gạch samốt chịu lửa có gân thô này. Những viên gạch đỏ thường pha cát tạp gặp nhiệt cao sẽ nứt toác, tuyệt đối không được đưa vào buồng đốt chính. Thu gom toàn bộ bùn chịu nhiệt từ đáy khe suối cạn về đây, nhào thật kỹ với bột quặng sa khoáng để trát lại các mạch nối."
Thạch chăm chú lắng nghe, gật đầu lia lịa rồi lập tức phân công hai nhóm. Một nhóm cạy gạch cũ phân loại theo chỉ dẫn của cụ, nhóm còn lại dùng bay sắt cạo sạch lớp rêu phong bám trên vách buồng đốt. Cụ Hòa đích thân cầm xô bùn dẻo quánh, tỉ mỉ miết từng đường bay vào các kẽ nứt sâu hoắm trên vòm lò. Từng động tác của người thợ cả bảy mươi mốt tuổi chuẩn xác và thuần thục lạ thường, bảo đảm buồng đốt kín khít tuyệt đối, không để thất thoát một phân áp suất nhiệt khi ngọn lửa lên tới đỉnh điểm.
Cách buồng lò chừng mươi thước, Lê Mai cùng nhóm phụ nữ trẻ đã dựng xong một tấm lán bạt dã chiến. Chiếc tạp dề vải thô của cô dính đầy bụi xám tro. Trước mặt Mai là ba chiếc nong tre đan dày, bên cạnh chất từng bao tro thực vật gom từ thung lũng sa mạc sau đợt cháy kiềm.
Mai dùng một chiếc rây sắt đan mắt nhỏ, nhẹ nhàng lắc đều tay. Bột tro mịn màng như phấn bay là là rớt xuống lòng nong, để lại những mảnh than vụn chưa cháy hết bên trên. Thạch mang hai xô nước sạch đi ngang qua, dừng chân nhìn cô gái "Mai, đống tro này có cần sàng kỹ đến thế không? Lò nung cần cả tạ cơ mà."
Mai ngước lên, đôi mắt sáng lấp lánh sau chiếc khăn che mặt, khẽ lắc đầu:"Không cẩu thả được đâu, Thạch. Đây là tro cây kiềm hóa giàu oxit kali, chất trợ dung sống còn để hạ nhiệt độ nóng chảy của cát thạch anh từ gần hai nghìn độ xuống một nghìn bốn trăm năm mươi độ. Nếu lẫn than củi chưa hóa tro hay hạt thô, khối thủy tinh khi sôi sẽ sinh bọt khí li ti, phiến ngói làm ra sẽ giòn xốp chẳng khác nào tấm nhựa của Hoàng Mậu."
Nói rồi, cô chấm đầu ngón tay vào đĩa dung dịch thuốc thử đặt trên bàn đá, cẩn thận so sánh màu sắc của lớp bột mịn. Sự tỉ mỉ, chuẩn xác của Mai khiến đám thanh niên xung quanh càng thêm kiên nhẫn.
Giữa trưa, khi tiếng quai búa và xẻng sắt vẫn vang đều dưới vách đá, một mùi thơm nồng ấm bất ngờ lan tỏa khắp triền dốc. Bà Sáu Dừa cùng hai người phụ nữ thuộc đội cấp dưỡng đang đẩy một cỗ xe cút kít tiến lại gần. Trên xe chất năm bao tải căng phồng, đen nhánh những khúc than củi gộc chắc nịch.
"Bà con ơi, tạm nghỉ tay uống miếng nước chua cho lại sức!" Bà Sáu cất tiếng đôn hậu, nụ cười làm giãn những nếp nhăn lao khổ trên gương mặt bạc phơ.
Thạch cùng nhóm thợ ùa lại, đỡ lấy những bát nước quả rừng mát lạnh pha loãng. Cụ Hòa cũng buông chiếc bay sắt, đưa vạt áo lau mồ hôi trên trán, bước tới bên bà Sáu "Chị Sáu, kho than của bếp ăn vốn đã eo hẹp, chị đem ngần này củi gộc ra đây, bữa tối của bà con tính sao?"
Bà Sáu Dừa vỗ nhẹ lên mu bàn tay gầy gộc của cụ Hòa, ánh mắt kiên định "Anh Hòa đừng lo chuyện con cá lá rau. Bếp ăn chúng tôi đã thống nhất rồi, từ hôm nay chuyển sang đun củi tạp với rơm khô dưới đáy hang. Mấy chục bao than củi gộc này là phần tích trữ mùa đông, chúng tôi trích ra giao hết cho tổ thợ lò. Cứ yên tâm dựng lò cho thật vững, ba trăm hai mươi con người trong hang đều trông cậy vào ngọn lửa của anh."
Những lời chân tình mộc mạc như tiếp thêm một luồng sinh khí mới cho cả khu phế tích. Đám thanh niên reo hò, chia nhau từng ngụm nước chua rồi lại lập tức lao vào công việc với khí thế gấp bội. Người vác bao than củi xếp vào hầm trữ khô ráo, kẻ nhào bùn, người chuyền gạch.
Khi ánh hoàng hôn đỏ quạch bắt đầu buông xuống lòng thung lũng, dáng dấp buồng lò nung vòm cuốn cổ truyền đã cơ bản thành hình. Lớp vữa chịu nhiệt trát kín các khe nứt đã bắt đầu se mặt, cửa buồng nạp liệu và ống khói vươn cao sừng sững bên chân vách đá như một pháo đài thu nhỏ.
Cụ Hòa đứng trước cửa lò, v**t v* lớp gạch samốt phẳng phiu, ánh mắt đượm vẻ hài lòng. Nhưng khi cụ quay đầu nhìn về phía bãi chứa nguyên liệu bên cạnh, chân mày cụ lại khẽ nhíu lại.
Thạch bước đến đứng cạnh thầy, nhìn theo ánh mắt cụ. Trên nền đá dọn sẵn, ngoài mấy bao tro cây kiềm hóa của Mai và số than củi của bà Sáu Dừa, bãi nguyên liệu vẫn trống huếch hoác. Kho chứa hoàn toàn vắng bóng cát silic trắng tinh khiết — xương sống quyết định mạng lưới silicat của phiến ngói ARglass.
"Lò đã dựng xong phần xác, nhưng chưa có cát thạch anh thì lò cũng chỉ là đống gạch nguội," cụ Hòa thở dài khe khẽ. "Sáng mai, con phải dẫn đội xe thồ lên đồi thạch anh chuyến đầu tiên."
Thạch ngẩng đầu nhìn về phía chân trời phía tây xa xăm. Nơi ấy, ráng chiều không còn mang sắc đỏ bình yên mà đang cuộn lên từng vệt mây vàng đục ngầu, nhớp nháp và nặng trĩu. Gió từ hẻm núi thổi thốc qua mang theo mùi xút nồng nặc và hơi ẩm ngột ngạt đến nghẹt thở. Cơn giông kiềm mới đang tích tụ với tốc độ kinh hoàng, đe dọa sẽ phong tỏa hoàn toàn con đường mòn độc đạo dẫn lên bãi cát lưng đồi trước khi đoàn xe thồ kịp xuất phát.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
