Chương 20: Bình Minh Trên Mái Vòm

Tia nắng ban mai đầu tiên rọi xuyên qua vòm trời phương đông, vượt qua hẻm núi đá vôi rồi rót thẳng xuống bốn trăm phiến ngói thủy tinh của cửa hang Vực Xanh.

Cát Vĩnh Hòa đứng tựa vào bệ đá hoa cương trước cửa xưởng lò, ngước nhìn lên cao. Khối kính ngọc bích dày hai mươi milimét hứng trọn ánh nắng rực rỡ, lọc đi bụi mờ còn sót lại của trận bão đêm qua, tỏa ra một quầng sáng xanh biếc trong vắt lung linh khắp lòng hang đá. Không còn mùi khét nồng cay xè của kiềm nồng độ pH mười bốn, không còn tiếng gào rú xé tai của gió giật cấp mười. Toàn bộ khẩu độ ba mươi mét cửa tiền đồn giờ đây được bao bọc kiên cố như một tấm khiên khổng lồ, vững chãi và tĩnh lặng đón lấy ngày mới.

“Cụ Hòa ơi! Nắng kìa, nắng rọi ấm cả người rồi!”

Tiếng gọi lảnh lót của bé Út kéo cụ Hòa trở về với thực tại. Con bé khoảng tám tuổi gọn gàng trong manh áo chắp vá lành lặn, bả vai phải từng bị bỏng kiềm loét rữa nay đã kéo da non phẳng phiu. Cùng với dăm ba đứa trẻ tị nạn khác, bé Út chạy ùa ra khoảng sân đá nhẵn bóng ngay dưới vòm kính, giang hai tay đón lấy những vệt sáng xanh nhảy múa trên nền đất. Tiếng cười trong trẻo ngân vang, xua tan hoàn toàn bóng ma ảm đạm từng đè nặng nơi này suốt những năm tháng mạt thế.

Mẹ Thạch lưng còng bưng thau nước sạch đi ngang qua, ánh mắt rạng rỡ nhìn đàn trẻ, rồi cúi đầu chào cụ “Nhờ ơn bác Hòa với đám trẻ, cả đời tôi chưa từng thấy sớm mai nào an lành đến thế này.”

“Ơn là ở tấm lòng của bà con chòm xóm cả thôi, bà thím à,” cụ Hòa từ tốn đáp, khóe môi nở nụ cười hiền hậu.

Cụ đưa mắt nhìn sang lối thoát hiểm rải sỏi. Dưới sự giám sát của hai thanh niên đội tuần tra cầm gậy sắt, Hoàng Mậu và Bùi Tuất đang cặm cụi nạo vét lớp bùn cặn sủi bọt đọng lại ở rãnh thoát kiềm bên ngoài. Hai ống chân gã cựu quản lý quấn đầy băng vải tẩm mỡ kháng hóa, dáng đi khập khiễng nhọc nhằn, nhưng đôi mắt đã rũ bỏ sạch vẻ xảo quyệt kẻ cả, chỉ còn lại sự nhẫn nhịn chuyên tâm đền tội. Bùi Tuất lẳng lặng vác từng xẻng bùn đổ vào hố chôn lấp vôi tôi. Công lý đã được thực thi phân minh, nhường chỗ cho trật tự và tình người đùm bọc.

Tiếng bước chân nhẹ nhàng vang lên sau lưng. Lê Mai bước tới, dáng đi thoăn thoắt vững vàng. Vết bỏng kiềm ở ống chân trái của cô đã khỏi hẳn từ mấy hôm trước, trên khuôn mặt thanh tú chỉ còn đọng lại nét rạng rỡ của người vừa vượt qua thử thách lớn. Mai ôm sát vào ngực cuốn sổ tay bách nghệ bìa bọc da thú cẩn thận.

“Ông Hòa,” Mai khẽ gọi, giọng trong trẻo. “Cháu đã chuẩn hóa xong từng dòng phối liệu rồi. Bảy phần cát thạch anh trắng sàng kỹ, một phần rưỡi tro kiềm kali trợ dung, nửa phần borat và một phần bột quặng zirconi dioxit. Cả tỷ lệ vữa tro pozzolana với nhựa cây sa mạc chịu bazơ cũng được ghi chép rành mạch.”

Cụ Hòa đưa bàn tay chai sần đón lấy cuốn sổ. Cụ lật từng trang giấy thô ráp ngả màu nâu nhạt, ngắm nhìn những nét chữ nắn nót ghi lại từng mốc nhiệt, sắc độ lửa trắng lóa một nghìn bốn trăm năm mươi độ C, và cả dáng vẻ uốn cong của nón đo nhiệt đất sét chịu lửa.

“Cháu làm tốt lắm, Mai,” cụ xúc động nói. “Đây không còn là bí quyết riêng của một xưởng lò hay một lão già cổ lỗ nữa. Các tiền đồn lân cận như Hốc Gió, Suối Cạn vẫn đang oằn mình chống chọi với kiềm độc từng ngày. Chúng ta sẽ nhân bản cuốn sổ này, gửi thợ trẻ mang công thức đến chia sẻ cho họ. Tri thức chỉ thực sự sống khi nó che chở được cho sinh mạng con người.”

“Dạ, cháu cũng nghĩ vậy,” Mai gật đầu quả quyết. “Được tự chủ vật liệu thì không tiền đồn nào còn phải phụ thuộc vào những lô nhựa rác mục nát hay sự ban phát xa vời của Vòm Thép nữa.”

Cụ Hòa gấp cuốn sổ trao lại cho Mai, rồi thong thả rảo bước về phía buồng lò vòm cuốn dưới vách đá phía đông.

Lò nung vẫn đang đỏ rực. Tiếng bễ gió thụt đều đặn phả ra hơi ấm nồng nàn của than củi gộc quyện cùng mùi khoáng thạch. Đặng Thạch đang đứng bên miệng lò, m*nh tr*n để lộ bắp tay cuồn cuộn ngăm đen vì tro bụi. Vết rách do giọt kiềm cũ trên cánh tay phải đã liền sẹo thành một vệt dài rắn rỏi. Anh thoăn thoắt dùng gáo sắt vớt lớp xỉ nổi trên mặt khối silicat nóng chảy, động tác chuẩn xác, trầm ổn như một tay thợ già dạn dày sương gió.“Thạch, hạ bễ xuống một nhịp,” cụ Hòa bước lại gần, lên tiếng nhắc.

Thạch giật mình quay lại, vội lau mồ hôi trên trán rồi cười toe “Thầy! Mẻ thủy tinh làm chai lọ chứa nước sạch và khay đựng thuốc thử này chảy êm lắm ạ. Lửa giữ đúng sắc vàng rơm, bọt khí tan gần hết rồi.”

Cụ Hòa đứng lặng nhìn người học trò. Nhớ lại những ngày đầu, thanh niên này chỉ biết cậy sức cơ bắp bốc vác từng tảng đá, nóng nảy bộc trực, vậy mà trải qua bao phen nguy biến, từ trận sập vòm, chuyến vượt giông kiềm thồ quặng thạch anh, cho đến đêm thức trắng canh từng nón đo nhiệt, Thạch đã thực sự trưởng thành. Anh không chỉ học được thuật điều hòa ngọn lửa, mà còn thấu hiểu cái tâm của người thợ lò: kiên định, bao dung và hết lòng vì sự an nguy của cộng đồng.

Cụ Hòa cúi người, lấy từ góc hòm gỗ ra một chiếc ống thép dài chừng ba, bốn thước. Đó là chiếc ống thổi thủy tinh được rèn bằng thép đặc biệt, đầu ngậm nhẵn bóng vì năm tháng, thân ống loang lổ những vết xước nhiệt tích tụ suốt mấy chục năm cuộc đời cụ.

Cụ nâng chiếc ống bằng cả hai tay, bước tới trước mặt Thạch “Thạch, cầm lấy.”

Thạch ngơ ngác, hai bàn tay thô ráp lúng túng buông cán gáo sắt “Thầy... đây là kỷ vật cả đời của thầy cơ mà?”

“Nó theo tôi từ những ngày còn ở Viện nghiên cứu, qua trận bão điện từ kinh hoàng mười lăm năm trước, rồi cùng tôi sống sót đến tận hôm nay,” ánh mắt cụ Hòa ấm áp, giọng trầm lắng chan chứa ân tình. “Mái vòm kia đã đứng vững, ba trăm hai mươi con người ở Vực Xanh đã có chốn nương thân an toàn. Lưng tôi đã còng, sức tàn không thể mãi đứng trước cửa lò gầm rít. Nghề này, ngọn lửa này, từ nay tôi giao lại trọn vẹn cho cháu. Hãy làm một người thợ cả xứng đáng, biết đem hơi ấm của lửa sưởi ấm cho xóm làng.”

Đôi mắt Thạch hoe đỏ. Anh hít một hơi thật sâu, kính cẩn chìa hai bàn tay chai sạn đỡ lấy chiếc ống thổi nặng trĩu. Bàn tay Thạch run rẩy khi nắm lấy thân ống thép còn vương vết tích thời gian, ánh mắt anh rực sáng vẻ quyết tâm và xúc động khôn cùng.

“Cháu xin khắc ghi lời dạy của thầy!” Thạch siết chặt ống thổi, nghẹn ngào hứa. “Cháu thề sẽ giữ cho ngọn lửa Vực Xanh không bao giờ tắt.”

Bà Sáu Dừa từ bếp ăn tập thể bưng mâm bánh hấp nóng hổi bước tới, nhìn thấy cảnh tượng ấy liền mỉm cười đôn hậu, khóe mắt rưng rưng niềm xúc động. Tiếng cười đùa của lũ trẻ bên ngoài lại dội vào vách đá, hòa cùng tiếng than nổ lách tách trong buồng đốt thành một bản hòa ca bình dị mà thiêng liêng.

Cụ Cát Vĩnh Hòa bước ra khỏi mái hiên xưởng nung, sóng vai cùng Thạch và Mai đứng dưới vòm kính ngọc bích.

Nhìn ánh nắng rực rỡ chan hòa khắp hang đá, cụ thở phào nhẹ nhõm, cảm thấy gánh nặng tội lỗi và nỗi đau mất mát người thân từ mười lăm năm trước rốt cuộc đã được trút bỏ hoàn toàn. Đêm tối tàn khốc của mưa kiềm đã lùi xa sau lưng. Bằng sự đùm bọc sắt son và bàn tay lao động thủ công bền bỉ, những con người bình dị nơi hẻm núi này đã tự tay dựng nên vòm trời của chính mình, vững vàng bước vào một tương lai tự cường ngập tràn ánh sáng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.