Chương 1: Nắng Quái Lam Sơn
Tiếng rên xiết khô khốc xé toạc màng nhĩ kéo Thạch Chấn Du bừng tỉnh.
Cơn đau từ khớp gối chân trái nhói buốt lên hông khiến cụ giật mình co rúm. Không khí hầm hập như lò nung thốc vào buồng phổi, ngột ngạt mùi rơm rạ khô rang. Cụ đưa tay quệt trán, bàng hoàng thấy bàn tay mình gầy guộc khẳng khiu, da dẻ chằng chịt vết đồi mồi và chai sần lam lũ.
Đây không phải thân thể của người kỹ sư cách nhiệt bảy mươi bảy tuổi vừa trút hơi thở cuối cùng sau cơn bạo bệnh.
Cái lưng còng gập xuống đau nhức ê ẩm. Bên mép chõng nứa dựng cây gậy tre ngả màu vàng bóng, đầu mòn vẹt. Dòng ký ức xa lạ ùa về: thung lũng đá vôi Lam Sơn, năm Cảnh Lạc thứ mười hai triều Đại Khánh, và thân phận lão phu coi kho tật nguyền cùng tên, cùng tuổi, ngã núi gãy chân từ thuở thanh xuân.
Chưa kịp trấn tĩnh, cánh liếp nứa xiêu vẹo đã bị đẩy bật ra. Tiểu Thạch, cậu bé mười ba tuổi da ngăm đen bóng nhẫy mồ hôi, hai tay nâng bát nước mát hớt hải chạy vào — Nội! Nội tỉnh rồi! Tạ ơn trời đất, nội mê man suốt hai khắc làm con sợ muốn chết!
Thằng bé đặt bát nước lên đôn gỗ, vội rút mảnh khăn thô giắt bên hông, nhúng nước rồi ân cần lau trán cho cụ Du. Làn nước mát thấm qua da nhăn nheo làm đầu óc cụ thanh tỉnh đôi phần.
— Thạch nhi... ông không sao, nhọc lòng cháu rồi.
Cụ Du thốt lên, giọng khàn đặc nhưng trầm ấm. Cụ đưa tay vỗ nhẹ mu bàn tay nhỏ thó của đứa cháu nuôi. Nhìn đôi mắt đỏ hoe vì lo lắng của đứa trẻ, lòng cụ dâng lên niềm thương cảm. Kiếp trước cụ sống cô độc giữa những bản vẽ khô khan, không ngờ nơi thôn dã này lại có tấc lòng hiếu thảo kề bên.
Ngoài sân kho Tuệ Ân Đường, những hồi r*n r* nghẹn ngào lại dội vào, kèm tiếng khóc hờ của đàn bà — Đau buốt ruột gan... Nóng quá, mẹ ơi nóng cháy ruột rồi...
Tiểu Thạch quệt vội giọt mồ hôi chảy ròng ròng xuống cằm, mắt rơm rớm — Nội ơi, trời nắng quái nung đỏ thung lũng, gió phơn thổi rát mặt suốt nửa tháng nay. Người trong thôn ngã bệnh la liệt vì chứng sốt nhiệt độc. Mẹ thằng Củ cũng đang co giật ngoài kia, người nóng như hòn than đỏ...
Cụ Du nén cơn đau nơi khớp gối, chống gậy khập khiễng đứng dậy. Tựa vào vai đứa cháu nhỏ, cụ từng bước chậm rãi đi ra gian bốc thuốc phía trước.
Mùi thảo mộc khô quyện lẫn mùi mồ hôi ngột ngạt xộc thẳng vào mũi. Dưới mái tranh xơ xác của Tuệ Ân Đường, hơn hai mươi mảnh chiếu rách trải kín nền đất. Người bệnh nằm chen chúc, môi khô nứt nẻ rớm máu, hơi thở nóng rực.
Ở gian giữa, lương y Tuệ Mẫn sáu mươi tám tuổi, râu tóc hoa râm, đang cuống cuồng lật giở từng chiếc nong tre bốc thuốc. Vầng trán khắc khổ hằn sâu nếp nhăn lo âu. Tay ông run rẩy bốc từng vụn rễ cỏ tranh khô cong rồi buông xuống, thở dài thườn thượt.Thấy cụ Du chống gậy bước tới, Tuệ Mẫn ngẩng lên, đôi mắt thâm quầng lộ rõ vẻ bất lực — Chấn Du huynh, huynh vừa tỉnh sao đã ra đây? Khổ quá, cái nạn nắng lửa này muốn tuyệt đường sống của bà con rồi! Thuốc giải nhiệt cạn kiệt, người bệnh kéo đến ngày một đông, mà trong tay lão phu chỉ còn rơm rác vụn vặt thế này thì cứu làm sao nổi?
Cụ Du nhìn chiếc nong tre trơ đáy, khẽ cất giọng trầm tĩnh — Tuệ huynh bình tâm. Thuốc thanh nhiệt cho chứng sốt độc này, chẳng phải hôm qua tráng đinh vừa hái được đợt tươi mới về sao?
— Có, nhưng chỉ như muối bỏ biển! — Tuệ Mẫn lắc đầu, nghẹn ngào. — Bệnh nhân nhiệt độc phạm vào huyết phận, chỉ có sinh địa, bạch mao căn cùng cát căn tươi mọng nước mới đủ sức lương huyết, dập tắt hỏa độc trong tạng phủ. Thuốc khô mất hết tân dịch, sắc lên chẳng khác nào đổ dầu vào lửa!
Ngoài cổng tre bỗng vang lên tiếng lừa hí. Ba người thương lái vãng lai dắt hai con lừa thồ hàng bước vào xin nước giải khát. Người dẫn đầu đón bát nước chè tươi từ tay Tiểu Thạch uống cạn, vừa th* d*c vừa kể — Nóng thế này thì đá sỏi cũng nứt toác! Chúng tôi đi từ mạn dưới lên, nghe đâu triều đình đã phái đoàn Khâm sai tuần thú đi thị sát việc cứu tế hạn hán ở mấy châu hạt phương Nam rồi đấy. Quan Khâm sai mang thượng phương bảo kiếm, hễ bắt gặp quan lại dung túng gian thương găm hàng nâng giá là nghiêm trị không tha.
Mấy tráng đinh đang ngồi quạt cho người nhà nghe vậy liền ngẩng đầu lên, ánh mắt le lói hy vọng — Thật thế sao bác lái? Có quan lớn thương dân thật sao?
Người lái buôn thở dài, lắc đầu ngao ngán — Thật, nhưng từ kinh kỳ về đến Lam Sơn cách trở muôn trùng. Chờ được bóng cờ Khâm sai đến đây thì người nghèo chắc đã cháy khô thành than rồi!
Lời nói như gáo nước lạnh dập tắt tia hy vọng vừa nhen nhóm. Tuệ Mẫn ủ rũ cúi đầu, còn cụ Du trầm ngâm nhìn rặng núi xa xa đang mờ đi trong làn hơi nóng. Triều đình có Khâm sai thanh liêm là điều đáng mừng, nhưng nước xa không cứu được lửa gần. Muốn sống sót qua cơn đại hạn, người Lam Sơn phải tự cứu lấy mình.
Nghĩ đoạn, cụ Du chống gậy khập khiễng đi về gian kho sâu nhất phía sau Tuệ Ân Đường. Đẩy cánh cửa gỗ nặng nề, luồng khí ẩm bức bối như nồi xôi mở vung lập tức táp vào mặt cụ.
Giữa gian phòng tối mờ, ba mươi bồ tre ken dày xếp thành hai dãy. Đó là toàn bộ thảo dược thanh nhiệt tươi non bà con trèo đèo lội suối thu hái suốt mấy ngày qua: củ sinh địa mập mạp ứa nhựa đen nhánh, từng bó bạch mao căn trắng ngà mọng nước và những khúc cát căn đẫm chất bột giải nhiệt.
Thế nhưng, cái nóng quái ác bên ngoài đã hun nóng cả gian phòng. Cụ Du run run áp bàn tay chai sần vào thành bồ tre, nhận thấy nan tre đã bắt đầu ấm ran. Những đọt lá sinh địa bên trên đang rũ xuống, rịn ra từng giọt nước nhớp nháp vì hấp nhiệt.
Kinh nghiệm cả đời mách bảo cụ một sự thật tàn nhẫn: kho thuốc công tế chỉ còn vẻn vẹn ba mươi bồ thảo dược tươi thanh nhiệt, nhưng giữa cái nóng hầm hập như thiêu như đốt, chỉ dăm mười ngày nữa toàn bộ số thuốc cứu mạng này sẽ úng thối hoàn toàn nếu không có hơi lạnh bảo quản.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
