Chương 3: Hơi Thở Của Lò Nung

Sáng sớm trên đỉnh Vọng Thiên Nhai, gió núi thổi qua rặng thông già mang theo hơi sương buốt lạnh. Gian buồng lò của Lò Nung Viện đã ấm sực từ canh năm. Dật Cương Phúc gạt tàn tro ở cửa cời, xếp thêm mấy thanh củi xương rồng linh mộc vào buồng đốt. Ngọn lửa bén dần, tỏa mùi nhựa khô ngai ngái quen thuộc.

Tiếng bước chân khẽ khàng dừng lại trước ngạch cửa. Thạch Minh Khê bước vào, vai khoác chiếc túi vải thô, tay cầm cuốn sổ nhỏ bìa bọc da cùng ống bút tre. Đôi mắt nàng sáng lên khi nhìn thấy ánh lửa hắt qua khe cửa lò.

“Ông Phúc, tôi đến sớm để dọn nốt đống than vụn hôm qua,” cô gái cất tiếng chào trong trẻo.

Dật Cương Phúc không quay đầu lại, tay giữ thanh sắt cời than “Không vội quét. Lại đây.”

Minh Khê bước đến bên chiếc ghế gỗ thấp. Hơi nóng phả vào khiến gò má nàng thoáng ửng hồng.

Dật Cương Phúc chỉ đầu kẹp sắt vào khoang lò qua khe ngắm “Làm thợ lò, trước khi học thổi kính, phải học nhìn lửa. Lửa nuôi linh sa, cũng có thể làm hỏng linh sa nếu người canh lơ đễnh.”

Minh Khê ghé sát lại, chăm chú nhìn ngọn lửa đang bốc lên trong lòng lò qua khe ngắm.

“Cô bé nhìn cho kỹ,” ông nói, giọng khàn đục như tiếng đá mài. “Khi củi mới bén, ngọn lửa có màu đỏ sẫm. Đó là lúc non nhiệt, đá chưa đủ mềm, linh sa đưa vào chỉ thêm sượng. Đợi thêm một tuần trà, lửa chuyển sang sắc cam vàng, ấy là lúc mức nhiệt bắt đầu gom tụ, tạp chất trong quặng chuẩn bị tan biến. Nhưng muốn thổi được kính, phải đợi đến khi ngọn lửa chuyển sang sắc trắng vàng thuần khiết.”

“Trắng vàng?” Minh Khê lặp lại, mắt không rời ánh sáng rực rỡ bên trong.

“Phải. Lúc đó độ nhiệt đều tăm tắp, mặt linh sa phẳng lặng như gương, tiếng lò rít thấp dần thành tiếng ù đều ổn định. Thấy sắc lửa ấy mới được đưa bình thổi vào. Nếu nôn nóng thổi khi lửa còn cam, kính sẽ đục ngầu, gãy vân. Còn nếu để lửa vượt sang màu trắng xanh, ấy là quá nhiệt, linh sa cháy chết, chẳng còn thu nạp được ánh sáng tinh tú.”

Thạch Minh Khê vội mở cuốn sổ nhỏ, nắn nót ghi từng chữ. Đôi tai thon nhỏ của nàng khẽ giật nhẹ theo từng tiếng củi nổ tí tách từ buồng đốt.

“Nhưng thưa ông Phúc, sao thân lò này nhất thiết phải đắp bằng tro gai xương rồng? Cả củi nung nữa, trên núi Lạc Diệu đâu thiếu gỗ tùng, gỗ bách?”

Dật Cương Phúc khẽ nhếch khóe môi, ánh mắt màu hổ phách nhìn vào vách lò xám sẫm “Gỗ tùng nhiều dầu, cháy bốc nhưng gắt, sinh khói tạp ám vào linh sa. Thân lò này được tiền nhân đắp bằng đất sét phong hóa lấy từ vách đá Vọng Thiên Nhai, trộn tro gai của loài xương rồng linh mộc bám rễ nơi khe đá tụ khí. Đất sét xương rồng giữ nhiệt sâu, không nứt vỡ trước sương đêm buốt giá. Còn củi nung phải là thân xương rồng vách đá Bắc phơi ròng rã ba mùa nắng gió. Nhựa khô cháy chậm, đượm và thuần khiết, ngọn lửa mới đủ nhu hòa để giữ cho linh sa không biến chất.”

Minh Khê ngẩng lên, ánh mắt đầy vẻ thán phục “Thảo nào đêm qua đứng ngoài cửa viện, tôi nghe tiếng củi nổ đều như nhịp thở của người đang ngủ sâu.”Nàng ghi thêm mấy dòng rồi ngập ngừng hỏi tiếp “Nếu mức nhiệt chuẩn giúp kính trong suốt, vậy cơ chế nào khiến phiến kính sau khi tôi nguội lại thu nạp được vân sáng tinh mạch ạ? Nếu độ nhiệt sai lệch một chút, đường đi của ánh sao có bị gãy khúc không ông?”

Dật Cương Phúc khựng lại một thoáng trước câu hỏi sắc sảo của cô gái trẻ.

“Linh sa tự nhiên vốn giữ linh khí trời đất,” ông đáp. “Độ nhiệt chuẩn giúp thớ đá xếp thẳng hàng, sóng sáng phân kỳ hội tụ đúng một điểm. Chỉ cần một sai lệch nhỏ, đường vân khúc xạ sẽ chệch đi, đưa tọa độ thiên tượng vào cõi mông muội.”

Minh Khê gật gù, ngòi bút tre lại thoăn thoắt chạy trên trang giấy.

Cả ngày hôm ấy, hai người luân phiên canh lò, tiếp củi và dọn dẹp các khay khuôn. Đến buổi chiều, sau khi quét sạch vụn xỉ quanh bàn tôi kính và châm đầy nước vào các vại làm nguội, Thạch Minh Khê cẩn thận gài cuốn sổ vào túi vải.

Tiếng chuông đồng từ Vọng Thiên Các vọng sang ba hồi thong thả báo giờ tan việc của đệ tử ngoại vụ.

“Ông Phúc, tôi xin phép về cư xá trước. Sáng mai tôi sẽ đến sớm kiểm tra hầm ủ tro,” Minh Khê cúi đầu chào lễ phép.

Dật Cương Phúc gật đầu “Được rồi. Đi cẩn thận trên đường Kính Tinh Lộ, chiều tối đá hay trơn.”

Cô gái mỉm cười rồi bước nhanh ra cổng viện. Tiếng bước chân nhẹ tênh chìm dần vào màn sương lam đang buông xuống triền núi.

Gian buồng lò lại chìm vào sự tịch mịch quen thuộc. Dật Cương Phúc cài then cửa gỗ, thắp ngọn đèn dầu hạt cải đặt lên chiếc bàn gỗ mun.

Mở chiếc tủ gỗ cũ góc phòng, ông lấy ra tập nhật ký cùng những bản ghi chép vật tư ba tháng qua—thời gian Lò Nung Viện dồn sức đúc bộ kính mới cho đại trận.

Ông lật từng trang, đối chiếu lượng khoáng kiềm linh và vôi linh tiêu hao với số kính thành phẩm. Mười cân linh sa thô bao giờ cũng cần tỷ lệ phụ liệu nhất định để khử tạp chất, tạo độ trong. Đó là quy chuẩn bất di bất dịch do người thầy quá cố truyền lại từ bốn mươi chín năm trước.

Thế nhưng, ngón tay thô ráp của ông bỗng khựng lại ở những mẻ nung gần đây.

Lượng khoáng kiềm linh và vôi linh tiêu hao đối chiếu với số kính hoàn thành có sự chênh lệch mờ ám giữa các đợt nung. Rõ ràng lượng vật tư cấp phát trên giấy tờ thì đủ đầy theo định mức, nhưng mức hao hụt thực tế lại trồi sụt bất thường, kết hợp cùng màu lửa cam đục ở mẻ thứ chín chứng tỏ tỷ lệ phối trộn đã bị can thiệp.

Dật Cương Phúc tựa lưng vào ghế, mắt nhìn vào ngọn bấc lay lắt. Sự sai lệch này quá kín kẽ để người coi kho nhận ra, nhưng với một người trọn đời bên ngọn lửa, nó lộ liễu như vết rạn trên mặt gương.

Khép lại tập sổ ố vàng dưới ánh đèn dầu leo lét, Dật Cương Phúc trầm ngâm nhìn những con số sai lệch, phân vân không rõ đây là lỗi sơ suất của người coi kho hay một sự can thiệp có tính toán từ trước.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.