Chương 20: Hỏa Mai Kỳ Duyên
Nhật Duật cúi xuống, đón lấy ánh nhìn ngập tràn nhu tình mà quả quyết của Ngọc Cầm. Bàn tay thon nhỏ của nàng dù chai sần bởi muội than và bễ lò, nhưng khi đặt trọn trong tay chàng lại ấm áp lạ kỳ. Chàng nâng đôi vòng đồng thau khảm bạc hoa mai năm cánh khuyết góc lồng vào cổ tay nàng, từng đường vân chạm ánh lên lấp lánh dưới ráng chiều tà. Chàng cẩn trọng cài lại chiếc trâm đồng đen chạm hoa sen lên mái tóc mây thoảng hương bồ kết của người tri kỷ — kỷ vật năm xưa cố nghệ nhân Vũ Đình Cương đúc tặng ái nữ, nay một lần nữa được cài lên, chứng giám cho mối duyên lành đã cùng nhau vượt qua mưa tên bão đạn, vào sinh ra tử.
Tiếng chuông thu không từ ngôi chùa cổ xa xa ngân nga hòa cùng sóng nước hồ Lục Thủy. Nhật Duật khẽ siết lấy bàn tay nàng, giọng trầm ấm “Ngọc Cầm, ngày mai là hạn chót của mười lăm ngày đêm. Bệ hạ ngự giá Giảng Võ đường duyệt binh, cũng là lúc hỏa khí Đại Việt cùng tài nghệ của nàng chấn nhiếp muôn phương.”
Ngọc Cầm ngước nhìn chàng, khóe môi hé nở nụ cười thanh thản, trong đáy mắt ánh lên niềm kiêu hãnh của con nhà nghề đúc “Có chàng kề bên, thiếp chẳng còn điều chi lo ngại. Ba năm oan khuất đã tan, ngày mai ngọn lửa chính khí của nước nhà sẽ rực sáng.”
Sớm hôm sau, rạng đông vừa ửng hồng trên nền trời Thăng Long, đánh dấu mốc tròn mười lăm ngày đêm hoàn thành kỳ hạn phá án để bước vào ngày hội lớn. Tiết thu thanh bình trải dài khắp kinh kỳ, gió heo may mơn man trên những mái ngói rêu phong.
Giảng Võ đường rợp bóng cờ ngũ sắc bay phần phật trong gió sớm. Trên đài cao uy nghiêm, Hoàng đế Lê Thánh Tông ngự tọa trên ngai vàng thếp rồng, dung mạo ngời sáng khí phách bậc minh quân thịnh trị. Văn võ bá quan tề tựu trang nghiêm; sứ bộ các nước lân bang ngồi ngay ngắn, chăm chú dõi mắt với vẻ tò mò xen lẫn dè chừng trước võ công triều đình Đại Việt.
Đặng Nhật Duật vận quan phục Binh bộ chàm thẫm, bên hông mang trượng kiếm vỏ lim bịt bạc, đứng sừng sững cạnh Thượng thư Lê Niệm. Khớp gối chân trái thỉnh thoảng vẫn nhói buốt khi đứng lâu, nhưng lưng chàng thẳng tắp như cây tùng trên vách đá, ánh nhìn bao quát khắp thao trường rộng lớn.
Đúng giờ Thìn, ba hồi trống đồng rền vang rung chuyển mặt đất. Cửa thao trường mở rộng, năm mươi tráng sĩ Cấm vệ quân mang giáp đồng sáng lóa bước ra uy dũng tựa sấm dồn. Trên tay mỗi người là một khẩu súng Thần cơ hoa mai đời mới, thân súng đúc đồng thau ánh sắc vàng thẫm, then bẩm hoa mai ăn khớp khít khao, nòng súng vươn thẳng hiên ngang.
Đi đầu hàng ngũ quân giới chính là Vũ Ngọc Cầm. Nàng khoác tấm áo gấm xanh thêu hoa văn mây cuộn của phẩm vị Nữ Đốc công Ty Quân giới, tóc búi cao cài trâm đồng hoa sen, thần thái ung dung và đĩnh đạc. Nhìn nàng nơi tiền tuyến, lồng ngực Nhật Duật dâng lên niềm kiêu hãnh khôn xiết. Nàng đã làm được, không chỉ rửa sạch mối oan ngút trời cho thân phụ mà còn rèn đúc nên những tấm lá chắn thép bảo vệ non sông.
“Truyền lệnh khai hỏa!”
Giọng nói trong trẻo mà dứt khoát của Ngọc Cầm vang lên hòa cùng hiệu kỳ phất xuống. Năm mươi thiện xạ Cấm vệ lập tức dàn trận thế ba tầng răng lược so le: hai mươi người quỳ gờ thấp, mười lăm người khom gờ trung, mười lăm người đứng gờ cao. Xạ thủ đồng loạt mở then hoa mai, khóa bẩm hỏa, đưa cần mồi áp sát buồng nòng.
“Đoàng! Đoàng! Đoàng!”
Tiếng nổ đinh tai nhức óc đồng loạt xé toang không gian tựa sấm sét giáng giữa trời quang. Những luồng chớp lửa chói lòa phóng ra từ nòng súng cuốn theo sức công phá kinh thiên động địa. Nhờ tỷ lệ hợp kim chuẩn xác và rãnh thoát khí hoa mai tinh xảo do Ngọc Cầm cải tiến, khói thuốc súng mang sắc lam nhạt tản đi nhanh chóng theo luồng gió quẩn, tuyệt nhiên không gây ngạt hay cản trở tầm nhìn xạ thủ.
Cách xa tám mươi trượng nơi cuối thao trường, hàng bia đá xanh dày nửa thước cùng những tấm khiên gỗ bọc sắt bị đạn chì bắn nát vụn. Mảnh đá văng tung tóe trong bụi mù cuồn cuộn. Hàng xạ thủ thứ nhất vừa dứt tiếng nổ liền hạ nòng lui về nạp đạn, hàng thứ hai lập tức tiến lên phát hỏa, rồi tiếp đến hàng thứ ba. Ba tầng hỏa lực đan cài tuần hoàn tạo nên bức tường lửa liên miên bất tuyệt.
Cả Giảng Võ đường lặng đi trong giây lát vì kinh ngạc, rồi bỗng chốc vỡ òa trong tiếng hò reo vang dội long trời lở đất của vạn quân. Sứ thần các nước lân bang đều biến sắc, nhìn nhau đầy kính sợ. Uy lực vô song của súng Thần cơ cùng sự chuẩn xác ở cự ly tám mươi trượng đã dập tắt hoàn toàn mọi toan tính dòm ngó bờ cõi nước Nam.
Trên đài cao, Hoàng đế Lê Thánh Tông đứng bật dậy, vỗ tay cười lớn, tiếng cười hào sảng vang vọng khắp trời thu “Tuyệt diệu thay! Hỏa mai Thần cơ chuẩn quy cách, hỏa lực ngút trời, bắn xa tám mươi trượng mà chuẩn xác như chẻ tre! Đây chính là thần khí hộ quốc an dân của Đại Việt ta!”
Đại lễ duyệt binh kết thúc trong niềm hân hoan tột bực của triều đình và bách tính.
Giữa sân rồng Giảng Võ đường, lời chiếu chỉ phong thưởng được tuyên đọc trang trọng. Đặng Nhật Duật bước ra khỏi hàng ngũ, quỳ một gối trước thềm điện. Chàng nâng hai tay, kính cẩn hoàn trả thanh Thượng phương bảo kiếm cho Thượng thư Lê Niệm. Nhờ đại công dẹp tan phản tặc Trần Hoài Viễn, thu hồi mật đồ huyết mạch Chi Lăng và đập tan mạng lưới gian tế Hắc Hạc, Nhật Duật được Hoàng đế ban chiếu thăng chức Đô chỉ huy sứ Binh Bộ Tiền cục, trao quyền điều phối toàn bộ việc rèn đúc võ bị và bố phòng hỏa lực tại các cửa ải biên cương trọng yếu phía Bắc.
Nhật Duật nâng tấm kim bài chức tước bằng đồng mạ vàng ròng chạm hình mãnh hổ, dập đầu tạ ơn quân vương “Hạ thần Đặng Nhật Duật xin cẩn tuân thánh mệnh! Nguyện đem hết tấc lòng cúc cung tận tụy vì nền thái bình của giang sơn!”
Rời khỏi sân rồng khi buổi thiết triều vừa tan, Nhật Duật bước khập khiễng trên hành lang đá xanh rợp mát bóng liễu. Từ phía sau, một bàn tay hộ pháp vỗ mạnh lên vai chàng kèm tràng cười sang sảng quen thuộc “Nhật Duật huynh! Chúc mừng huynh thăng chức Đô chỉ huy sứ!”
Lê Cảnh trong bộ giáp trụ Cấm vệ oai phong lẫm liệt sải bước tiến tới. Trên tay vị đội trưởng dũng mãnh là một bầu rượu gốm bọc dây gai cùng hai chiếc chén sành da lươn thô mộc.
“Lê Cảnh đệ,” Nhật Duật dừng bước, trên gương mặt phong trần hé lộ nụ cười ấm áp.Lê Cảnh đặt hai chiếc chén lên thành lan can đá, nghiêng bầu rót ra hai dòng rượu nếp cái hoa vàng sóng sánh, hương nếp mới quyện cùng men lá ngào ngạt lan tỏa trong gió thu. Hắn nâng một chén trao cho Nhật Duật, giọng bộc trực mà chân tình “Huynh đệ chúng ta cùng vào sinh ra tử từ miếu Thần Đúc, bến Đông Bộ Đầu, đáy cống hồ Lục Thủy cho tới tận vách đá Quỷ Môn Quan. Mối hận ba năm trước đã rửa sạch, gian thần Hoài Viễn đền tội, mạng lưới Hắc Hạc bị nhổ cỏ tận gốc. Mười lăm ngày đêm như một giấc mộng dài, nay bờ cõi vững vàng, chén rượu này ta kính mừng cho giang sơn Đại Việt, và kính mừng cho tri kỷ Đặng Nhật Duật!”
“Cũng nhờ có đệ và huynh đệ Cấm vệ quân xả thân tương trợ, ta mới có thể hoàn thành trọng trách,” Nhật Duật nâng chén, chạm mạnh vào chén của Lê Cảnh.
Tiếng sành va vào nhau vang lên giòn giã. Hai người ngửa cổ uống cạn một hơi. Dòng rượu cay nồng chảy qua cổ họng, xua tan hết những mỏi mệt nơi vết thương cũ và sưởi ấm lồng ngực người lính trận. Lê Cảnh quệt ngang miệng, ghé sát lại gần chàng, nháy mắt hóm hỉnh hạ giọng “Này, việc nước đã vẹn tròn mỹ mãn, vậy còn việc riêng của huynh với Vũ cô nương... à không, Nữ Đốc công Ty Quân giới thì định liệu đến đâu rồi? Bà con phường Ngũ Xã đang ngóng trông tiệc mừng rộn rã lắm đấy!”
Nhật Duật bật cười, trong ánh mắt đong đầy vẻ dịu dàng hiếm thấy “Đệ yên tâm, chén rượu hỷ của ta và Ngọc Cầm, đệ nhất định phải là người nâng chén đầu tiên.”
Chẳng mấy chốc, ngày lành tháng tốt đã đến.
Tiết trời cuối thu Thăng Long trong trẻo lạ thường, nắng vàng như rót mật trên mặt hồ Trúc Bạch lăn tăn sóng biếc. Cả phường đúc đồng Ngũ Xã rực rỡ cờ hoa, đèn lồng đỏ treo cao từ đầu ngõ tới cuối xóm, tiếng pháo nổ giòn giã từng hồi quyện cùng tiếng cười nói huyên náo của người già con trẻ.
Xưởng đúc họ Vũ náo nhiệt chưa từng thấy. Không chỉ bà con xóm thợ tay bưng mâm đồng thau đúc hình đôi chim uyên ương đến chúc phúc, mà đông đảo tướng lĩnh Binh bộ, cấm binh cùng Thượng thư Lê Niệm cũng thân hành gửi lễ mừng trọng thể. Tiếng búa gõ đe nhịp nhàng quen thuộc của phường nghề hôm nay như hòa tấu cùng tiếng đàn tranh, sáo trúc ngày hội, tạo nên bản hoan ca ấm áp tình người.
Gian từ đường họ Vũ nghi ngút khói trầm hương ngào ngạt. Trên bàn thờ gia tộc, bài vị của cố nghệ nhân Vũ Đình Cương được đặt ở vị trí trang trọng nhất, bên cạnh tấm biển sơn son thếp vàng rực rỡ mang bốn chữ “Công Thần Quân Giới” do chính Hoàng đế ngự ban. Phía dưới là bài vị của sư huynh Trần Khoát và Lương lão nghệ nhân, những người con kiên trung đã lấy máu mình bảo toàn bí mật súng Thần cơ. Trước vong linh tiền nhân, những chén rượu thơm được dâng lên kính cẩn. Nỗi hàm oan ngút trời đè nặng suốt ba năm qua nay đã tan biến không còn một vết gợn; hương linh người đã khuất nay có thể mỉm cười nơi chín suối khi thấy cơ nghiệp phục hưng rạng rỡ và công lý được thực thi trọn vẹn giữa thanh thiên bạch nhật.
Đêm xuống, kinh thành Thăng Long chìm dần vào giấc ngủ thanh bình.
Gian phòng hoa chúc trong xưởng đúc họ Vũ đượm hương trầm thoang thoảng xen lẫn mùi hoa ngọc lan dịu ngọt. Ánh nến hỷ đỏ rực lung linh nhảy múa, hắt bóng đôi tân lang tân nương lên vách gỗ mộc mạc.
Trên chiếc án thư bằng gỗ mun kê sát khung cửa sổ, hai nửa khuôn đồng súng Thần cơ hoa mai gia truyền — một nửa hình bán nguyệt khắc mười thiên can, một nửa khắc mười hai địa chi — nay đã được ghép khít khao thành một khối đồng đen nguyên vẹn, vững chãi. Ngàm hoa mai ở giữa ăn khớp chuẩn xác từng rãnh kim loại, tựa như một biểu tượng thiêng liêng cho đỉnh cao trí tuệ luyện kim của non sông, và là minh chứng bất diệt cho mối nhân duyên sinh tử đã cùng nhau vượt qua bao phong ba bão táp.
Nhật Duật chậm rãi bước lại gần chiếc giường cưới trải đệm gấm đỏ thêu hoa sen. Nơi ấy, Vũ Ngọc Cầm đang ngồi e ấp trong bộ giá y lụa điều thướt tha. Không còn tấm áo thợ đúc vấy muội than hay sắc phục Nữ Đốc công nghiêm cẩn, nàng lúc này đẹp dịu dàng và thanh thoát tựa đóa sen đầu hạ. Đôi gò má nàng ửng hồng dưới ánh nến, đôi mắt lấp lánh niềm hạnh phúc ngập tràn.
Nhật Duật ngồi xuống bên nàng, khẽ nâng bàn tay thon nhỏ của người bạn đời. Bàn tay nàng vẫn còn vương những vết chai sạn của nghề nguội và ngọn lửa thử kim, nhưng đối với chàng, đó là đôi bàn tay kiên cường và quý giá nhất trần đời.
“Ngọc Cầm,” Nhật Duật cất giọng trầm ấm, chan chứa yêu thương.
Ngọc Cầm ngước nhìn người nam tử đầu đội trời chân đạp đất trước mặt, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười rạng rỡ đượm vẻ e ấp, dịu dàng “Chàng... từ nay về sau, thiếp nguyện cùng chàng chia ngọt sẻ bùi, trọn đời chẳng rời.”
Nhật Duật mỉm cười siết nhẹ những ngón tay nàng. Chàng đứng dậy, ân cần dìu nàng bước ra bên khung cửa sổ mở rộng hướng về phía hồ Trúc Bạch.
Bầu trời đêm Thăng Long cao vút và trong trẻo không một gợn mây. Vầng trăng thu tròn vành vạnh như chiếc đĩa ngọc khổng lồ lơ lửng giữa trời cao, rải ánh sáng lung linh dát vàng lên những mái ngói thâm nghiêm của Hoàng thành, nhuộm bạc mặt nước hồ phẳng lặng và soi tỏ dòng sông Hồng cuộn sóng phù sa ngàn năm bền vững.
Tiếng chuông điểm canh từ vọng lâu Cấm thành vọng tới trầm hùng, khoan thai, báo hiệu một thời kỳ thịnh trị, thái bình. Giữa không gian thiêng liêng và lắng đọng của đất trời mùa thu, Nhật Duật khẽ nghiêng người, để Ngọc Cầm tựa đầu vào bờ vai vững chãi của chàng.
“Trăng thu Thăng Long đêm nay thật đẹp,” Nhật Duật ngắm nhìn ánh trăng vằng vặc soi tỏ giang sơn, giọng chàng đĩnh đạc mà lắng sâu nghĩa tình: “Ải Bắc đã vững như bàn thạch, khói lửa chiến tranh đã lùi xa. Đời này kiếp này, có nàng kề vai sát cánh, dẫu bão giông hay lửa đạn, ta nguyện cùng nàng dốc trọn tâm lực vì sự trường tồn của Đại Việt.”
Ngọc Cầm khẽ gật đầu, đưa tay chạm vào chiếc trâm hoa sen cài trên mái tóc và đôi vòng đồng hoa mai khảm bạc nơi cổ tay, mỉm cười đón nhận hơi ấm từ chàng “Nguyện cùng chàng sắt son một dạ, giữ yên bờ cõi, trọn vẹn nghĩa tình.”
Dưới ánh trăng thu vằng vặc soi sáng kinh kỳ ngàn năm văn hiến, hai bóng hình hòa vào làm một, cùng hướng về một tương lai thái bình, rực rỡ và vững bền của non sông gấm vóc.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
