Chương 20: Quan Huyện Kinh Lý
Tiếng mõ làng vừa dứt, cả xóm Cồn Bãi liền xôn xao. Khương Đại Thành vội chống nạng gỗ nghiến bước ra khỏi xưởng tre, vạt áo nâu còn vương mạt cưa và mùi ngai ngái của bẹ chuối tươi. Chú Ba Vạng, thím Bảy Xoan cùng bà con đang quét dọn ngõ xóm cũng buông chổi, tất tả tề tựu lại. Vĩnh Lạc bước nhanh đến bên cha, đưa mắt nhìn về phía con đường đất dẫn từ bến sông Trà vào xóm.
Đoàn người từ bến sông đang tiến tới. Đi đầu là quan Tri huyện trong bộ áo the xanh thẫm viền gấm, khoác áo choàng dạ sẫm màu ngăn gió bấc, chòm râu hoa râm rung nhẹ theo từng bước chân khoan thai. Theo sát phía sau ngài là quan thừa phái ôm tráp công văn bằng gỗ sơn son, cùng mấy viên sai dịch nai nịt gọn gàng, tay cầm gậy đầu bịt đồng sáng loáng.
Qua lời bẩm báo của tuần đinh với Lý trưởng vừa hớt hải chạy tới, Vĩnh Lạc hiểu rõ cớ sự. Hằng năm, cứ vào cữ gió bấc giáp Tết, quan Tri huyện đều đi thuyền tuần dọc hạ lưu sông Trà để thị sát dân tình. Vùng bãi bồi này vốn nghèo xơ xác nhất tổng, mùa đông nào cũng có người già chết cóng vì thiếu chăn, con trẻ tím tái vì cước lạnh. Trên nét mặt nghiêm nghị của quan huyện, ngài vốn chuẩn bị sẵn tâm thế chứng kiến cảnh đói rét, tang thương quen thuộc nơi xóm bãi.
Thế nhưng, khi vừa đặt chân qua rặng tre đầu xóm, bước chân vị quan phụ mẫu bỗng khựng lại.
Trước mắt ngài không hề có cảnh tang thương, ảm đạm. Dọc con ngõ đất bãi bồi được quét tước phong quang, sạch bóng lá rụng. Khói bếp từ các mái nhà tranh bay lên nghi ngút, thơm lừng mùi ngô rang hòa cùng mùi gạo mới. Trong từng căn lều vách nứa, bếp củi tre nổ lách tách ấm sực, tuyệt nhiên không có thứ khói than nồng nặc gây ngạt thở mà các nhà giàu thường dùng.
Quan Tri huyện dừng bước trước gian nhà tranh của một bà lão neo đơn. Qua khe liếp mở rộng, ngài thấy bà lão cùng hai đứa cháu nhỏ đang quây quần bên mâm khoai lùi tro. Da dẻ lũ trẻ hồng hào, chân tay lành lặn không hề sưng tấy vì buốt giá. Cả ba bà cháu ngồi trên những tấm đệm cói dày dặn, nẹp cật tre chắc chắn, mặt đệm ánh lên sắc nâu cánh gián ấm áp và tỏa hương thảo mộc dịu nhẹ.
Quan huyện vuốt chòm râu hoa râm, ngạc nhiên thốt lên — Lạ thật... Gió bấc căm căm thế này, dọc đường ta đi qua, nhà khá giả còn phải co ro bên chậu than, cớ sao xóm bãi nghèo lại ấm êm dường này? Dân tình chẳng những không ai ngã bệnh chết rét, mà thần sắc đều an vui, hồng hào!
Lý trưởng làng Yên Giang khúm núm bước lên chắp tay — Bẩm quan lớn, xóm Cồn Bãi qua được cữ rét năm nay là nhờ ơn nhà anh Khương Đại Thành đằng kia! Anh ấy cùng con trai sáng chế ra thứ đệm cói xốp tơ chuối, lại lập xưởng dạy nghề cho cả xóm cùng làm, cứu ấm biết bao gia cảnh bần hàn!
Nghe vậy, ánh mắt quan Tri huyện sáng lên vẻ tò mò. Ngài phất tay, sải bước tiến thẳng về phía lán xưởng tre của nhà họ Khương trên dải đất ba sào bãi bồi hương hỏa.
Bước chân vào gian xưởng rộng rãi, quan Tri huyện cùng viên thừa phái không khỏi ngỡ ngàng. Dưới mái lán che chắn gió bấc cẩn thận, hơn mười bộ khung cửi tre hai go đứng ngay ngắn thành hàng. Tiếng thoi đưa lách cách, tiếng khổ đập gõ xuống mặt cói chan chát hòa thành nhịp điệu rộn ràng, tràn đầy sức sống. Ở góc xưởng khô ráo, từng sọt tre đầy ắp những con suốt tơ chuối trắng ngà, óng ánh dưới nắng đông như tơ nõn.
Theo bước chân quan huyện, Khương Đại Thành chống nạng đi trước dẫn đường vào xưởng rồi ngồi xuống chiếc ghế mộc tựa lưng bên khung cửi chính để thao diễn. Ngài chăm chú quan sát người thợ cụt một chân: Đại Thành chỉ dùng một chân lành đạp nhẹ đòn bẩy kết hợp con lắc gỗ nghiến làm đối trọng, tay giật cần thoi nhịp nhàng, miệng go cửi liền mở rộng đón cọng cói xốp, rồi khổ đập dập xuống đều đặn, khít khao.Quan Tri huyện khẽ đưa tay áo the ra, đích thân sờ nắn hàng sợi dọc bằng tơ chuối đang căng trên trục dệt. Thấy thớ tơ vừa mềm mại vừa đanh chắc lạ thường, ngài không giấu nổi sự thán phục, quay sang nhìn Đại Thành — Khéo léo vô cùng! Khung cửi bằng tre già mộc mạc mà chuyển động êm ru như nước chảy. Người thợ cụt một chân mà làm nên cơ cấu đòn bẩy tài tình nhường này, quả là hoa tay hiếm có, ý chí hơn người!
Đại Thành vội ngừng tay thoi, chống nạng đứng dậy, cung kính thưa — Đội ơn quan lớn khen ngợi. Thảo dân tật nguyền túng quẫn, nếu không có đứa con trai này gợi ý cách lấy tơ chuối và làm con lắc đòn bẩy, thảo dân dẫu có hoa tay nghề mộc cũng chẳng thể dựng nổi chiếc khung cửi này.
Lúc bấy giờ, quan Tri huyện mới chú ý đến Khương Vĩnh Lạc đang đứng nghiêm cẩn bên cha. Cậu bé sáu tuổi vóc dáng nhỏ nhắn, nhưng đôi mắt đen láy toát lên vẻ điềm tĩnh, sáng suốt khác thường.
Nhận thấy thời cơ đã đến, Vĩnh Lạc cùng thím Bảy Xoan lễ phép bước lên, hai tay nâng tấm Đệm An Thọ dày dặn gần hai đốt ngón tay dâng lên trước mặt quan huyện. Nền đệm dệt từ cói nước lợ màu nâu cánh gián bóng bẩy, nổi bật chính giữa là chữ Thọ dệt bằng tơ chuối nhuộm đỏ thắm sắc nét, trang nhã lạ thường.
Quan Tri huyện đưa tay vuốt dọc mặt đệm, ngón tay ngài lập tức cảm nhận được hơi ấm tích tụ mơn man trên da thịt, xua tan cái buốt lạnh của gió đông. Ngài ngạc nhiên hỏi — Cọng cói nước lợ mọc dại ven sông với bẹ chuối hột bờ rào, sao dệt nên tấm đệm lại ấm áp, mềm xốp chẳng kém gì chăn bông gấm vóc thế này?
Vĩnh Lạc chắp tay cúi đầu, giọng nói trẻ con trong trẻo nhưng rành rọt từng lời — Bẩm quan lớn, cây cỏ trời cho nơi bãi bồi đều mang công dụng riêng nếu biết thuận theo tự nhiên. Cọng cói nước lợ phơi sương đêm hong nắng nhẹ sẽ tạo ra những khoang rỗng xốp bên trong thân. Khi dệt sít sao lại thành mặt đệm, những khoang rỗng ấy sẽ ngậm hơi ấm từ thân người tỏa ra, đồng thời ngăn triệt để hàn khí buốt giá từ lòng đất bốc lên. Còn bẹ chuối hột già đanh, đem luộc qua nước tro bếp sẽ rũ sạch chất chát đắng và keo dính, giữ lại những thớ tơ dẻo dai làm sợi dọc chịu lực dập. Thêm nước củ nâu và bùn sông giữ màu, tấm đệm vừa bền chắc, vừa kháng ẩm mốc suốt mùa đông.
Từng lời giải thích khúc chiết của cậu bé sáu tuổi khiến cả gian xưởng tre lặng phắc trong kinh ngạc. Quan Tri huyện mở to mắt, từ ngỡ ngàng chuyển sang trầm trồ thán phục. Ngài đưa mắt nhìn lại tấm Đệm An Thọ trên tay, rồi nhìn sang người cha thợ mộc tật nguyền đang đứng bên khung cửi tre già. Trí tuệ phi phàm của đứa trẻ thơ cùng bàn tay tài hoa của người cha khuyết tật đã làm nên kỳ tích ấm áp ngay giữa mùa đông khắc nghiệt. Trong lòng vị quan phụ mẫu trào dâng niềm xúc động khôn xiết.
Quan Tri huyện lập tức quay sang viên thừa phái đi sau, giọng nói dõng dạc vang rộn gian lán — Mau! Mở tráp công văn! Lấy giấy mực ra đây cho ta! Một nghĩa cử cứu ấm muôn dân, một tài năng bách nghệ sáng ngời như thế này, nha môn nhất định phải ban sức trát trọng thưởng cho xóm bãi!
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
