Chương 14: Khói Thanh Thố Huân Cốt
Dưới ánh nến lung linh rọi sát, vết nứt lún hình chữ đinh trên vùng xương chẩm của Lục Bách hiện ra rõ nét hơn, nhưng mép xương hãy còn mờ đục bởi lớp màng khô lạnh. Cụ Sầm Đức Chiêu tỳ nhẹ hai bàn tay gầy guộc lên đầu gậy trúc, đôi hàng chân mày bạc khẽ nhíu lại. Hơn chín mươi năm kinh nghiệm hành nghề ngỗ tác mách bảo cụ rằng, dẫu mắt thường đã thấy vết lõm, nhưng chừng ấy vẫn chưa đủ để bẻ gãy mọi ngụy biện xảo trá nơi công đường. Nếu không làm cho huyết ứ đọng sâu trong tủy xương trồi lên, bộc lộ toàn bộ mạng lưới rạn nứt tế vi chạy dọc thớ sọ, bọn gian quan sẽ vin vào cớ va chạm ngoài da để chối tội.
“Thụ nhi,” giọng cụ Chiêu trầm ấm cất lên, phá tan sự tĩnh mịch trong lều, “vết thương lún vào xương sọ đã định, nhưng hàn khí mùa đông cùng tủy mỡ đông kết đang phong bế những đường nứt li ti. Nay phải dùng đến thuật thanh thố huân cốt, mượn sức nóng của than củi và hơi chua nồng của giấm lâu năm để đánh thức huyết ứ chìm sâu.”
Trần Thụ khẽ cúi đầu, hai tay ôm chiếc tráp gỗ thị đen, cung kính đáp “Đồ nhi đã sẵn sàng. Xin sư phụ chỉ giáo tường tận.”
Cụ Chiêu đưa mắt nhìn về góc lều nơi nền đất sét nện hãy còn phẳng phiu, từ tốn căn dặn “Con hãy đào một hố tròn sâu chừng một thước, rộng chừng hai gang tay ngay chỗ góc lều đất sét kia. Gắp than củi quạt cho cháy hồng rực rồi rải đều xuống đáy, tuyệt đối không để bốc ngọn lửa trần. Kế đó, rải đều bã giấm thanh ba mươi năm, hoa cúc phơi khô và một nắm hành hoa tươi xắt khúc lên trên than đỏ.”
Trần Thụ lập tức vâng dạ. Đôi bàn tay dẻo dai của chàng thiếu niên mười tám tuổi thoăn thoắt cầm lấy chiếc thuổng sắt nhỏ, cẩn trọng khoét từng tảng đất sét dẻo quánh. Đất sét vùng ven sông nén chặt, giữ nhiệt rất tốt, là thứ lò đất tự nhiên hoàn hảo nhất để ủ khói. Chẳng mấy chốc, một hố lò tròn trịa, thành hố nhẵn thín đã hoàn thành.
Trần Thụ dùng kẹp sắt gắp từng mẩu than củi đượm lửa đặt vào đáy hố. Than đỏ rực như ánh hoàng hôn, tỏa ra sức nóng ấm áp làm tan đi cái rét cắt da cắt thịt trong lều bạt. Tiếp đó, chàng mở chiếc hũ sành da lươn bọc vải điều, bốc từng nắm bã giấm thanh ba mươi năm gia truyền rải đều lên mặt than. Bã giấm ủ qua ba thập kỷ tích tụ tinh hoa của gạo nếp và men chua, vừa chạm vào than hồng liền phát ra tiếng xèo xèo giòn giã. Trần Thụ nhanh tay rắc tiếp những đóa cúc khô vàng sẫm cùng nắm hành hoa tươi rói phủ kín bề mặt.
Một làn khói trắng ngả sắc vàng nhạt, cuộn dâng đặc quánh như sương mù đầu đông bắt đầu bốc lên nghi ngút. Mùi chua gắt nồng đậm của giấm thanh hòa cùng hương thơm thanh tịnh của hoa cúc khô và vị cay the the của hành hoa tỏa ra khắp gian lều, hoàn toàn xua tan mùi tử khí u ám quanh cỗ quan tài.
Cụ Chiêu chậm rãi bước tới bên miệng hố đất, khẽ gật đầu hài lòng “Khói bốc lên thuần khiết, không lẫn tàn tro. Mau đặt giàn tre ngang miệng hố lò, kê phần đầu của Lục Bách lên trên.”
Được sự trợ giúp của hai người lính cấm quân lực lưỡng, Trần Thụ cẩn thận khiêng giàn tre bện bằng cật nứa già chắn ngang miệng hố lò. Thi thể Lục Bách được nâng đỡ ngay ngắn sao cho phần xương chẩm vừa cạo sạch tóc nằm ngay giữa luồng khói giấm đang cuồn cuộn dâng lên. Hơi ấm chua nồng lập tức bao bọc lấy vùng xương sọ lạnh giá của người xấu số.
“Phủ kín chiếu cói dầy lên giàn tre,” cụ Chiêu tiếp tục cất giọng trầm tĩnh dặn dò. “Trùm kín từ mép đất lên đến ngang vai thi thể, chỉ chừa một khe nhỏ sát đáy để thông gió nuôi than cháy âm ỉ. Canh đúng hai canh giờ, không được sớm một khắc, cũng không được muộn nửa khắc. Hơi giấm ngấm non thì thớ xương chưa giãn nở, ngấm già thì cốt tủy khô cứng, khó mà soi tỏ.”
Trần Thụ cẩn thận trải từng tấm chiếu cói dệt dày quanh giàn tre, tỉ mỉ chèn chặt các góc để khói thuốc không bị gió bấc lùa vào cuốn tan. Chàng cắm một nén hương dài vào góc lều để định thời khắc, rồi ngồi bệt xuống bên cạnh, hai mắt chăm chú dõi theo từng đợt khói luồn qua kẽ chiếu, tay cầm quạt nan phe phẩy nhè nhẹ giữ cho than củi luôn đượm hồng.
Trong lều bạt, làn khói giấm ủ kín tỏa ra hơi ấm khoan thai. Thấy mọi việc đã vào quy củ, Khâm sai Thôi Cảnh Sách phất vạt quan phục ngự sử, bước đến chiếc ghế trúc đặt giữa lều, chắp tay mời cụ Chiêu ngồi xuống đối diện.
Ở góc lều bên kia, Tri phủ Tống Diễn và hào trưởng Tiền Hạo Thâm đứng nép dưới sự áp giải nghiêm ngặt của quân cấm vệ mang gươm tuốt trần. Dẫu gió mùa đông bên ngoài gò Tây Lĩnh thổi từng cơn buốt lạnh, nhưng trên trán hai kẻ này, từng hạt mồ hôi hột vẫn thi nhau túa ra ướt đẫm chân tóc.
Thôi Cảnh Sách đón lấy chén trà nóng từ tay thị vệ, ánh mắt phong nhã mà uy nghiêm nhìn cụ Chiêu, chậm rãi mở lời:“Sầm lão tiên sinh tuổi ngoài trăm mốt, hơn chín mươi năm dãi dầu giữa chốn hình ngục. Hôm nay bản viện tận mắt chứng kiến diệu thuật hun giấm cổ truyền, quả thực mở rộng tầm mắt. Nhưng người đời vốn câu nệ tục xưa, xem việc chạm vào da thịt kẻ đã khuất là hèn mọn, cớ sao tiên sinh lại nặng lòng gìn giữ nghiệp này trọn cả một đời?”
Cụ Chiêu nâng chén trà nhấp một ngụm nhỏ, lưng tựa vào chiếc ghế trúc vững chãi, giọng nói trầm lắng như dòng Lạc Thủy giữa mùa đông “Khởi bẩm Ngự sử đại nhân. Thói đời thường sợ hãi mùi tử khí của kẻ chết, lại không hay rằng lòng dạ kẻ sống khi sinh tà niệm mới thực là vực sâu vạn trượng. Người sống vì tư lợi có thể đổi trắng thay đen, thêu dệt chứng cứ ép hại kẻ cô thế. Nhưng hài cốt nằm dưới ba thước đất kia không biết xu nịnh, cũng chẳng biết dối lừa. Từng vết nứt, từng mảng máu ứ trên xương tàn đều là lời trăn trối chân thật nhất trước thanh thiên bạch nhật. Kẻ làm ngỗ tác cầm dao, cầm châm, không phải để bới tìm sự uế tạp, mà là mượn cái chết để che chở cho lẽ sống. Rửa sạch nỗi oan khiên ngập trời cho một quả phụ, bảo vệ giọt máu vô tội chưa thành hình, đó chính là tấm lòng từ bi lớn nhất của nghề mọn này.”
Từng lời cụ thốt ra khoan thai, đĩnh đạc, mỗi câu mỗi chữ như lưỡi gươm sắc bén đâm thẳng vào tâm can kẻ bất lương. Đứng bên cạnh, Tống Diễn nghe đến hai chữ “tư lợi” và “thêu dệt chứng cứ” thì hai đầu gối run lẩy bẩy, tấm quan phục tứ phẩm rung lên bần bật. Tiền Hạo Thâm đứng cạnh nuốt nước bọt ừng ực, chiếc khăn lụa cầm tay đã ướt đẫm mồ hôi, đôi mắt tráo trở lấm lét liếc nhìn giàn tre đang âm ỉ bốc khói, lộ rõ vẻ hoang mang tột độ.
Thôi Cảnh Sách gật đầu tán thưởng, vỗ nhẹ lên mặt bàn trà, đanh thép cất giọng “Nói hay lắm! Lòng dạ ngay thẳng tựa gương soi, kẻ tà tâm ắt run sợ trước ánh sáng công lý. Kẻ nào dám dùng quyền thế bẻ cong phép nước, bản viện thề trước Thượng phương bảo kiếm, quyết không dung tha!”
Thời gian chầm chậm trôi qua giữa không khí ngột ngạt mà trang nghiêm. Ngoài gò Tây Lĩnh, gió bấc rít qua những cồn cát hoang vắng, tiếng trống canh từ vọng gác nha môn xa xa vọng lại từng nhịp đều đặn. Trần Thụ ngồi canh bên hố than, thỉnh thoảng lại hé nhẹ góc chiếu, châm thêm từng nắm hoa cúc phơi khô và bã giấm thanh thơm nồng để duy trì lượng khói dày đặc.
Tuần hương thứ tám cháy rụi tàn đỏ, nén hương cuối cùng cũng vừa vặn tàn hết. Đúng hai canh giờ đã trôi qua.
“Sư phụ, thời khắc hai canh giờ đã điểm!” Trần Thụ đứng thẳng người, kính cẩn quay sang bẩm báo.
Cụ Chiêu chống gậy trúc đứng dậy, khẽ gật đầu “Tốt lắm. Mau mở chiếu cói.”
Trần Thụ cẩn thận nắm lấy hai mép chiếu cói dệt dày, từ từ vén lên. Luồng hơi nóng ngậm no vị giấm thanh và hương hoa cúc ùa ra mù mịt, lan tỏa khắp gian lều bạt.
Khi làn khói trắng tản bớt, phần xương sọ sau gáy Lục Bách hiện rõ trước mắt mọi người. Khói giấm hun đượm suốt hai canh giờ đã ngấm sâu qua từng kẽ xương và màng xương, làm các thớ xương sọ co cứng mùa đông giãn nở hoàn toàn. Khối huyết ứ chìm sâu trong tủy xương bị sức nóng và vị chua thúc ép, bắt đầu rỉ dần lên bề mặt, phủ lên vết lõm một sắc ửng đỏ sẫm màu, bốc hơi ấm nghi ngút.
Cụ Chiêu ngước nhìn qua mép rèm vén mở nơi cửa lều bạt, thấy vầng thái dương mùa đông đã vượt qua rặng mây xám xịt, vươn l*n đ*nh trời rạng rỡ. Mặt trời vừa đúng ngọ, từng tia nắng vàng rực rọi thẳng xuống nền cát gò Tây Lĩnh.
Cụ quay sang người đệ tử trẻ, ánh mắt sáng quắc vẻ đĩnh đạc “Thụ nhi, mặt trời đã đúng ngọ! Mau lấy tấm lụa đỏ dệt thưa căng nghiêng trước cửa lều, đón lấy ánh nắng trưa rực rỡ soi vào cốt sọ!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
