Chương 10: Mầm Xanh Thử Thách

Tiếng gậy batoong bịt bạc gõ lách cách trên mặt ván cầu chưa dứt, Biện Hùm đã nhổ toẹt một bãi trầu đỏ quạch xuống mé nước sình lầy, mắt hí lướt qua xấp giấy nợ trên tay rồi nhếch mép cười khẩy.

Ba Khiêm đứng chôn chân bên mố cống, hai bàn tay rướm máu run lên từng chặp. Vết bầm nơi bả vai buốt nhói theo từng nhịp thở, nhưng ánh mắt y không còn vẻ sợ sệt lấm lét như độ trước. Y cắn chặt môi, toan bước tới thì sau lưng bỗng vang lên tiếng bước chân vững chãi nện trên đất ải.

“Ông Biện khỏi nhọc lòng nhắc khéo.”

Tiếng nói trầm ấm mà sang sảng vang lên. Dân làng tự động dạt sang hai bên nhường lối. Cụ Ba Hòa chống cây gậy tre ngà, chậm rãi bước tới mé cống Ba Hào. Dù vạt áo bà ba đen vẫn còn bết dính bùn non sau đêm dầm nước xiết, chòm râu cước ướt đẫm hơi sương, nhưng đôi mắt cụ sáng quắc, toát lên vẻ uy nghiêm của bậc lão nông từng trải qua bao mùa dâu bể.

Cụ Ba dừng lại trước mặt Biện Hùm, đưa mắt nhìn hai tên tay sai đang bị trói gô nằm bẹp dưới chân bờ bao, rồi cất giọng rành rọt “Giao kèo bốn tháng có tôi điểm chỉ rành rành, hẹn tới cữ tháng Một âm lịch mùa cưới. Đất Tân Thới Nhất này xưa nay người làm ruộng trọng chữ tín hơn vàng. Nay mới đầu cữ tháng Tám, còn hơn ba tháng nữa mới tới kỳ hạn, ông đem xấp giấy ra đây dọa ai?”

Biện Hùm hơi khựng lại, ngón tay đeo nhẫn vàng bối rối miết nhẹ lên đầu batoong. Hắn liếc nhìn đám trai tráng tay lăm lăm cuốc xẻng đang đứng ken dày xung quanh, bèn đổi giọng ngọt nhạt, phân bua “Ấy, cụ Ba chớ vội nặng lời. Tôi đi ngang qua thấy cống nghẽn nên ghé mắt coi bộ dạng thằng Ba Khiêm ra sao. Hai cái đứa đắp đất này là quân du thủ du thực ở đâu tới quấy phá, chớ tôi nào hay biết giáp mặt tụi nó bao giờ! Có điều, tôi thương tình già nên nhắc chừng: mùa mưa dầm này sắp dứt, con nước rỏ rồi thì mùa cưới ập tới mau lẹ lắm. Một trăm đồng bạc Con Cò chớ đâu phải mớ lá trầu rụng, liệu mà gom cho đủ đặng chuộc lại mấy miếng giấy thuế đất, kẻo tới chừng đó lại trách Biện Hùm này cạn tàu ráo máng!”

“Mầy ngậm miệng lại đi thằng Hùm!”

Bác Năm Đước bước xăm xăm tới, chiếc xẻng sắt trong tay dằn mạnh xuống mặt đê đánh “chát” một tiếng. Bác quắc mắt, ngực phập phồng giận dữ “Hai thằng mắc dịch này hồi hôm tự miệng khai ra là người của mầy sai đắp cọc tràm ngăn nước đặng dìm chết vạt trầu làng này! Mầy còn chối quanh chối quéo gì nữa? Cả xóm Tân Thới Nhất này tai nghe mắt thấy, liệu hồn mà ăn ở cho có đức, đừng hòng giở trò ma mãnh ép bà con phá liếp bán vườn!”

Tiếng bà con xóm vườn lập tức rộ lên như ong vỡ tổ. Anh Tư Tốt vung phảng chặt củi hét lớn “Đúng đó! Muốn siết đất vườn của cụ Ba thì bước qua xác dân xóm này!”“Có giấy giao kèo bốn tháng đàng hoàng, tới cữ tháng Một mới tính sổ. Giờ cút khỏi đây mau!”

Tiếng la ó, tiếng khua cuốc xẻng rầm rập khiến Biện Hùm thoáng biến sắc. Mặt hắn xám ngoét, chòm râu cá chốt giật giật. Hắn lùi lại nửa bước, cố giữ vẻ trịch thượng nhưng nụ cười nham hiểm đã méo xẹo. Hắn nhét vội xấp giấy nợ và biên lai thuế đất vào túi áo lụa, hậm hực gõ batoong xuống mặt cầu “Được! Được lắm! Mấy người cứ ôm lấy nhau mà giữ mớ đất sình đó đi! Tao coi tới cữ tháng Một mùa cưới, trầu cau rớt giá thê thảm thì lấy giống gì đong đủ một trăm đồng bạc nộp cho tao!”

Dứt lời, Biện Hùm quay ngoắt lưng, lủi thủi bước vội qua cầu ván chuồn thẳng về ngả chợ Hóc Môn, bỏ mặc hai tên đàn em bị trói nằm queo miệng không ngớt van xin.

Bóng tên biện vừa khuất sau rặng tre, bầu trời phía đông bỗng ửng hồng. Mây đen tan biến tự lúc nào, nhường chỗ cho vầng dương đỏ ối nhô lên khỏi rặng dừa nước mé rạch Bến Cát. Ánh nắng ban mai ấm áp, rực rỡ rọi xuống khắp xóm vườn, xua tan cái lạnh lẽo, ẩm ướt của đêm mưa bão kinh hoàng.

Nước trong mương rãnh đã rút cạn, để lại lớp bùn non phù sa mịn màng bồi đắp quanh bờ liếp. Cụ Ba Hòa bước chậm rãi dọc theo luống trầu, đưa bàn tay sần sùi nhẹ nhàng nâng niu một đọt non vừa nhú. Cả vạt trầu hương xóm dưới vừa thoát khỏi cơn ngập úng như bừng tỉnh sau giấc mộng dữ. Những phiến lá dày cơm, bóng mướt như thoa mỡ tắm mình trong nắng sớm, vươn cao bám chặt lấy thân cau già thẳng tắp, tỏa ra mùi the nồng ngát đượm khắp không gian miệt vườn. Mầm xanh trải qua thử thách dường như càng thêm cứng cáp, kiên cường.

Trọng Tấn bước tới bên cạnh, đỡ lấy tay ông nội. Ba Khiêm cũng lặng lẽ cúi đầu bước lại gần, hai bàn tay rướm máu nép sau lưng áo bà ba, giọng nghẹn ngào “Ba... con suýt nữa hại chết cả vườn trầu của tổ tiên...”

Cụ Ba quay lại, nhìn vết bầm tím trên vai và đôi bàn tay trầy trụa của con trai. Ánh mắt nghiêm nghị của người cha già chùng xuống, đong đầy vẻ bao dung, đôn hậu. Cụ vỗ nhẹ lên bờ vai áo sờn bùn của Khiêm, giọng trầm ấm “Mầy biết xông pha giữ đê, biết liều mình mở cống cứu vườn, vậy là lương tâm mầy đã tỉnh rồi. Đất có cằn cỗi mấy mà gặp người chịu cày xới bón phân thì mầm xanh cũng đâm chồi. Huống chi mầy là giọt máu của dòng họ Thân này.”

Cụ Ba Hòa đưa mắt nhìn xa xăm về phía ngã ba sông, nơi những chiếc ghe tam bản đang neo đậu đợi con nước lớn. Nắng sớm chiếu rọi lên vạt áo ú đen của cụ, rạng ngời một niềm tin son sắt. Cụ quay sang Trọng Tấn và Ba Khiêm, giọng đanh thép mà trầm tĩnh “Nước lũ qua rồi, nhưng Biện Hùm với đám chành vựa Chợ Lớn sẽ không để yên đâu. Trầu cau xứ mình tốt tươi như vầy, không thể để lũ thương lái trung gian ép giá dìm chết mồ hôi nước mắt của chòm xóm hoài được. Thằng Tấn, thằng Ba, giờ là lúc tụi bây phải tính đường đưa trầu vượt sông thẳng tiến Chợ Lớn!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.