Chương 19: Nhặt Từng Nắm Xương Tàn

Gió chướng sau cơn bão chỉ còn thổi hiu hắt qua mạn tàu tuần tra, nhưng cái lạnh từ dòng nước ngã ba Vàm Đầu Sấu phả lên vẫn buốt đến tận chân răng. Nghiêm Bá Khiêm đứng chết lặng bên lan can sắt, đôi mắt đăm đắm nhìn xuống mặt sông đang dần phẳng lặng. Dưới ánh trăng muộn chênh chếch rọi qua làn nước đục, những mẩu xương sườn, đốt xương tay trắng nhờ nhợ của người xưa vẫn lững lờ dập dềnh giữa các xoáy bùn tàn dư. Hơn ba trăm con người mở cõi năm xưa, thân xác vùi dập gần hai trăm năm dưới đáy sâu, nay lại bị vòi rồng cát tặc cày xới tan tác, trôi dạt không nơi nương tựa. Nỗi xót xa dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng người thợ lặn già.

“Chú Ba...” Thằng Nhâm bước khẽ lại gần, cánh tay trái quấn băng trắng ghì sát ngực áo ướt sũng. Ánh mắt nó đỏ hoe, giọng run run át cả tiếng sóng vỗ mạn: “Xương cốt ông bà mình trôi nổi thế kia... tội quá chú ơi.”

Đại úy Trần Tuấn vừa hoàn tất việc bàn giao toán cát tặc bị còng tay cho canô áp giải về đất liền, cũng bước nhanh tới bên cạnh hai thầy trò. Giọng viên sĩ quan chững chạc chùng xuống đầy trăn trở “Chú Ba, pháp luật đã trừng trị bọn Bảy Càng, nhưng món nợ nghĩa tình với người nằm dưới đáy sông này, chúng cháu trông cậy cả vào chú.”

Bá Khiêm hít một hơi dài, lồng ngực vạm vỡ căng lên, ánh mắt lóe vẻ cương nghị “Cán bộ yên tâm. Bới mồ thì đền mạng, nhưng việc gom xương tàn cho tiền nhân an nghỉ là cái đạo của dân sông nước. Tôi hổng thể để vong linh các cụ vất vưởng lạnh lẽo thêm một ngày nào nữa.”

Ngay khi trời vừa rạng tỏ, tin tức Bảy Càng sa lưới và nghĩa địa chìm bị xáo trộn lan nhanh khắp cù lao Cát Lở. Không cần ai gõ mõ kêu gọi, gần chục thợ lặn cừ khôi của xóm vạn đò Bình Thạnh đã tề tựu đông đủ bên bến sông. Những người đàn ông da sạm màu phèn, ngực trần vạm vỡ từng vào sinh ra tử với con nước, ai nấy đều mang theo đồ nghề lặn, mặt mũi nghiêm cẩn khác thường.

“Anh Ba Khiêm, tụi tui xin góp một tay!” Chú Năm Ngư, người thợ lặn luống tuổi trong xóm, dằn giọng quả quyết: “Tiền nhân nằm đó giữ đất cho con cháu, nay mồ mả gặp nạn, dân vạn chài tụi tui có tróc da xé thịt cũng phải lặn vớt cho bằng hết.”

Bá Khiêm siết chặt tay từng người anh em. Trên bờ cồn sát miếu Bà Cậu, dân làng đã dựng sẵn một rạp bạt che sương gió, đặt ngay ngắn mấy hàng bàn gỗ trải chiếu hoa cùng hàng chục thau nhôm sáng loáng chứa đầy nước ngũ vị hương nấu từ hoa hồi, quế chi và rượu nếp để tẩy uế hài cốt. Bà Tư Hạt tóc bạc trắng bay lơ thơ trong gió sớm, lưng còng sụp xuống bên án hương nghi ngút, miệng không ngừng lần tràng hạt niệm kinh cầu siêu.

Công việc quy tập hài cốt bắt đầu vào giữa giờ Thìn, khi con nước ròng sát đáy và dòng chảy tạm thời êm ả.

Bá Khiêm cùng Thành Nhâm mang bình khí nén mười hai lít, lưng đeo đai chì, bên hông thắt chặt túi lưới cước chuyên dụng có mắt dày. Nhâm nén đau ở bắp tay trái, kiên quyết đòi lặn cùng thầy. Bá Khiêm vỗ mạnh lên vai đệ tử “Xuống đáy ba mươi hai sải tay, áp lực nước dữ lắm. Mày đi sát tao, hễ thấy tức ngực hay xót vết thương thì giật dây báo hiệu liền nghe mày.”

“Dạ chú Ba, con chịu được!” Ánh mắt Nhâm rực sáng vẻ kiên định.Hai thầy trò cùng nhóm thợ lặn thiện nguyện ngậm ống thở, ngửa người nhảy ùm xuống dòng nước đục ngầu.

Vượt qua tầng nước mặt lạnh buốt, Bá Khiêm chìm dần vào bóng tối thâm u của rốn xoáy Vàm Đầu Sấu. Dưới độ sâu hơn ba mươi thước, luồng nước đen kịt tựa hồ như một thế giới biệt lập, áp suất đè nặng lên màng nhĩ và lồng ngực buốt nhức. Đèn lặn rọi vào màn nước đục một cảnh tượng khiến lòng người quặn thắt: hố sụt do vòi rồng xoi đáy toác hoác như một vết thương lở loét khổng lồ, những vách cát hàm ếch nứt toác chực chờ đổ sụp, và trơ trọi giữa bùn lầy là vô số mảnh ván hòm mục nát nằm ngổn ngang.

Bá Khiêm ra hiệu cho mọi người tản ra các hướng, thận trọng mò mẫm từng tấc bùn cát.

Ông quỳ gối trên nền đáy sông trơn trượt, cẩn trọng dùng đôi bàn tay trần gạt nhẹ lớp bùn non lắng đọng. Dưới lớp phù sa xám xịt, một mảnh xương sọ ngả màu nâu sẫm dần lộ ra. Bá Khiêm kính cẩn chắp hai tay trước ngực niệm thầm một câu nguyện cầu, rồi nhẹ nhàng nâng mảnh sọ đặt vào lòng túi lưới.

Cách đó vài sải tay, Nhâm đang lần mò trong một kẽ nứt của đá ngầm. Nó cẩn thận nhặt từng đốt xương ngón tay, mẩu xương sườn cong vút mục rỗng, rồi cả những đồng tiền đồng xỉ xanh bám chặt vào mảnh vải thô phong kiến đã mủn nát từ trăm năm trước. Có đoạn, chiếc vòng sắt gỉ sét đeo tay của phu đào kênh lộ ra dưới chân cọc đá rạn, Nhâm nâng niu gỡ từng chút cát bám rồi ra dấu kính cẩn chuyển sang cho Bá Khiêm. Mỗi một mẩu xương tàn được nâng niu nhặt lên là một lần người thợ lặn cúi đầu tạ lỗi thay cho lòng tham tàn độc của kẻ ác nơi cõi trần.

Cứ sau hai mươi phút ngâm mình dưới đáy vực sâu, khi lượng dưỡng khí trong bình nén mười hai lít vơi dần, các thợ lặn lại lần lượt ngoi lên mặt nước, chuyển từng túi lưới nặng trĩu lên chiếc ghe máy túc trực.

Công việc thiêng liêng và nhọc nhằn ấy kéo dài suốt ba ngày đêm ròng rã.

Dưới cái lạnh thấu xương của đáy nước sâu ba mươi hai sải tay, da thịt Bá Khiêm và các thợ lặn nhăn nheo, tái ngắt, đầu ngón tay rướm máu vì va quẹt vào đá nhọn và vỏ hến. Nhưng không một ai bỏ cuộc. Từng bờ hàm ếch hiểm trở, từng hang hốc tối tăm đều được rà soát tỉ mỉ. Hàng chục thau nhôm trên bờ cồn Cát Lở dần đầy ắp những mảnh xương tàn của đoàn phu mở cõi năm xưa.

Mỗi khi một thau nhôm đầy di cốt được đưa lên bờ, bà Tư Hạt cùng các bô lão trong làng lại nghẹn ngào rơi lệ. Những bàn tay run rẩy kính cẩn dùng khăn sạch thấm nước rượu thơm lau rửa từng đốt xương mục, xếp ngay ngắn vào từng chiếc quách nhỏ bằng đất nung. Tiếng mõ cầm canh hòa cùng lời kinh cầu siêu bạt độ trầm bổng ngân vang khắp một khúc sông, xua tan đi màn sương giá buốt của những ngày trở gió chướng. Dân làng cù lao Cát Lở tề tựu đông đủ, chắp tay khấn vái trong niềm thành kính vô biên.

Đến chiều muộn ngày thứ ba, khi vầng dương đỏ ối lặn dần sau rặng bần mé cồn, Bá Khiêm thực hiện chuyến lặn cuối cùng xuống rốn xoáy. Ông dùng thanh đồng định thủy rà khắp đáy hố sụt, xác nhận toàn bộ khu vực nghĩa địa chìm đã sạch bóng xáo trộn, không còn một mảnh di cốt nào bị vùi lấp trong bùn đen.

Ngoi lên bờ miếu Bà Cậu trong sự đón đợi của dân làng, Bá Khiêm đón lấy mẩu xương cẳng tay cuối cùng từ tay Nhâm. Đó là một mẩu xương cổ kính, đã ngả màu đen nhánh tựa như gỗ mun, được tìm thấy ngay cạnh huyệt đất của chiếc mộc tiêu số bảy.

Bá Khiêm quỳ một gối trước hương án, kính cẩn đặt mẩu xương cuối cùng vào chiếc tiểu sành phủ tấm vải điều đỏ thắm.

Ngay khoảnh khắc ngón tay ông rời khỏi mẩu xương tàn, một luồng hơi ấm kỳ lạ bỗng từ lòng tiểu sành bốc lên, lan tỏa khắp lồng ngực rộng của người thợ lặn già. Luồng nhiệt ấm áp ấy xua tan đi hoàn toàn cái lạnh đáy mồ buốt giá đã ngấm sâu vào da thịt ông suốt mấy tuần qua, mang lại cảm giác thanh thản, nhẹ nhõm đến lạ kỳ. Ngoài vàm sông, dòng xoáy hung hãn dường như cũng dịu lại, từng con sóng nhỏ vỗ vào bờ cồn nghe êm đềm như tiếng thở phào của tiền nhân sau gần hai thế kỷ ngậm hờn, báo hiệu vong linh hàng trăm phu phen đã được xoa dịu trọn vẹn, sẵn sàng cho nghi lễ phục dựng lại mộc tiêu trấn hà muôn đời.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.