Chương 1: Lưới Lửa Lũng Vàng

Một tiếng rít nhọn hoắt xé toạc bầu không khí trên đỉnh Lũng Vàng, kéo theo quầng lửa đỏ lựng chụp xuống triền vách đá vôi. Đất đá rào rào trút xuống. Thang Nhật Tấn áp lưng vào khe đá tai mèo sắc lẹm, hai tay ghì chặt chiếc giỏ mây đựng lá thuốc rừng và ấm nước sôi bọc bao tải giữ nhiệt. Bụi đá mịn như tro bếp thốc vào mắt mũi cay xè. Cậu bé mười ba tuổi nén cơn ho sặc, đôi mắt sáng như mắt sóc rừng đảo nhanh qua khoảng đất ngập khói đen.

Miệng hang trạm xá tiền phương chỉ cách chừng ba mươi sải chân, nhưng từng đợt pháo bảy mươi lăm ly của giặc Pháp từ bờ sông Lô vẫn dập dồn băm nát lối mòn độc đạo. Đợi đợt nổ vừa dứt, đôi chân trần chai sần của Tấn thoăn thoắt bấm chặt vào từng gờ đá trơn trượt lao đi. Con dao quắm nhỏ của cha giắt bên hông nảy nhẹ vào đùi, nhắc cậu rằng hai mươi tám thương binh trong hang tối đang ngóng từng ngụm nước ấm và nắm lá ngải cứu dịu cơn sốt.

– Vào mau, Tấn con! – từ ngách hào đất sâu, Chính trị viên phó Lương Văn Kha chồm người vẫy mạnh tay. Khuôn mặt chữ điền của chú lấm lem khói súng, chiếc áo trấn thủ chần bông sờn mép vương đầy mạt đá.

Tấn cúi rạp mình trượt vào lòng hào, chìa chiếc giỏ mây còn bốc hơi nóng: – Cháu mang lá ngải cứu với nước sôi suối ngầm lên cho chị Mơ đây, – Tấn th* d*c, quệt vệt bùn non trên má.

Chú Kha đỡ lấy giỏ thuốc, bàn tay thô ráp vỗ nhẹ lên vai cậu: – Khá lắm, chú mày gan góc thật, – chú Kha mỉm cười ấm áp. – Đưa vào hang cho chị Mơ ngay đi, thương binh đang cần gấp lắm.

Tại trận địa lòng chảo, khẩu sơn pháo bảy mươi lăm ly của ta đặt dưới vòm đá vôi ngụy trang cành nghiến bất ngờ gầm lên xé trời. Luồng chớp lửa hất tung bụi đất. Khẩu pháo chồm lên rồi giật lùi trên bệ gỗ lim vững chãi. Vỏ đạn đồng đỏ rực rơi keng xuống nền sỏi. Đại đội trưởng Nguyễn Thế Doãn đứng sừng sững bên bệ pháo, cánh tay trái quấn băng vấy máu ghì trước ngực, đôi mắt quắc thước nheo lại quan sát bìa rừng.

– Trúng đội hình bộ binh giặc rồi! – khẩu đội trưởng reo to.

Từ ngách hào nhìn sang, Tấn thấy nét mặt Đại đội trưởng Doãn không giãn ra chút nào. Anh bước tới bệ pháo, giọng đanh lại: – Cơ số đạn còn bao nhiêu? – anh Doãn hỏi dồn.

– Báo cáo Đại đội trưởng, đạn sơn pháo chỉ còn sáu viên, cao xạ hai mươi ly còn hai băng ngắn, – người chiến sĩ nạp đạn nghẹn ngào đáp.

Cả trận địa chùng xuống. Bốn mươi lăm pháo thủ kiên cường bám trụ từ sáng sớm giữa lòng chảo hiểm trở. Những vách đá vôi sừng sững từng chở che đơn vị nay nứt toác từng mảng lớn, sạt lở ngổn ngang chặn lấp lối mòn. Đạn dược cạn dần, trong khi giặc Pháp đang quyết tâm khép chặt gọng kìm sắt.

Đúng lúc ấy, tiếng động cơ gầm rú chói tai dội xuống từ lưng chừng trời. Chiếc máy bay trinh sát Morane của địch lượn vòng trên đỉnh hẻm đá, bóng cánh quạt quét qua mặt đất như chim ưng rình mồi. Nó nghiêng cánh sà thấp, xả vệt khói vàng rực trúng mép giao thông hào trước trận địa.

– Máy bay giặc chỉ điểm, cối sắp dập, tản ra vách mau! – Đại đội trưởng Doãn hét lớn.

Chưa dứt khẩu lệnh, loạt đạn cối ngoài xa đã rú rít lao tới. Tiếng nổ chát chúa trùm lên đoạn hào phía tây, bụi đất và đá vụn bốc cao mù mịt.– Sập hào rồi, đồng chí Lập bị vùi lấp rồi! – tiếng ai đó kêu thất thanh lẫn trong tiếng đất đá trút xuống.

Tấn buông chiếc ấm nước, lao vụt khỏi ngách hào, đôi chân trần đạp qua mảnh đá nhọn buốt. Dưới đống đất đá vôi sạt lở, một cánh tay pháo thủ đang chới với tuyệt vọng.

– Chú Kha ơi, cứu anh Lập với! – Tấn quỳ sụp xuống, dùng mười đầu ngón tay cào xới điên cuồng. Đá sắc cào rách da thịt, máu ứa ra đầu ngón tay buốt nhói nhưng cậu không dừng lại.

Hai pháo thủ gần đó lập tức lao tới bẩy tung tảng đá hộc nặng trịch. Tấn luồn hai tay dưới nách người pháo thủ trẻ, nghiến răng kéo anh khỏi miệng hố sụt lở. Vừa đưa được anh Lập vào hốc đá an toàn, một quả cối khác lại nổ bùng ngay chỗ họ vừa đứng.

– Cảm ơn chú em… Cảm ơn chú sóc rừng, – người pháo thủ trẻ ho sặc sụa cát mịn, nắm chặt cổ tay Tấn.

Tấn thở hắt ra, quệt mu bàn tay rớm máu lên trán rồi cùng chú Kha chạy vội vào hầm chỉ huy dã chiến khoét sâu trong hốc đá.

Bên trong căn hầm mờ mịt khói khét, Trung sĩ liên lạc Đàm Văn Bách đang còng lưng bên chiếc máy liên lạc dã chiến q*** t**. Cần q*** t** quay tít mù phát ra tiếng rè đặc khô khốc, nhưng đáp lại chỉ là những tiếng rè rè vô vọng.

– Mất liên lạc hoàn toàn rồi, anh Doãn ơi, – anh Bách ngẩng đầu lên, mồ hôi nhễ nhại trên khuôn mặt bánh mật sạm khói súng. – Đường dây bọc đồng nối dọc sườn Lũng Vàng ra Sở chỉ huy Trung đoàn bị pháo giặc băm nát rồi. Quay máy rã cả tay chỉ nghe tiếng gió rít qua vách đá rỗng.

Đại đội trưởng Doãn siết chặt nắm tay, khớp xương trắng bệch dưới ánh đèn dầu leo lét. Đơn vị đang bị cô lập hoàn toàn giữa hẻm núi đá vôi. Không có đường dây nối với cấp trên, Đại đội không thể nhận mệnh lệnh tác chiến, không biết giờ hiệp đồng nổ súng đánh tàu giặc trên sông Lô, cũng chẳng thể tìm lối mở an toàn đưa thương binh rút lui. Vòng vây thép của giặc đang siết chặt từng gang tấc.

– Phải nối lại đường dây bằng mọi giá, – anh Bách dứt khoát đứng bật dậy, giắt cuộn dây bọc cao su lõi đồng và kìm bấm vào thắt lưng. – Tôi dẫn tổ thông tin đi men theo vách đá tai mèo tìm mối đứt.

– Cẩn thận đấy, Bách, giặc đang rải súng máy quét rát sườn núi, – chú Kha siết chặt bả vai anh Bách, giọng đầy lo lắng.

Anh Bách quay sang nháy mắt với Tấn, nụ cười hào sảng bừng sáng trên môi: – Chú sóc rừng ở lại phụ chị Mơ chăm thương binh nghe chưa? – anh Bách cười đôn hậu. – Lát nữa nối xong dây trở về, anh sẽ mài lại con dao quắm cho em.

Tấn gật đầu thật mạnh, ánh mắt sáng quắc dõi theo bóng lưng anh Bách cùng đồng đội khuất sau khe đá ngoài cửa hầm. Cậu vừa quay người bước về phía hang trạm xá thì bỗng nhiên, một tiếng nổ đanh gọn xé toạc góc núi. Khói đen bốc lên ngùn ngút từ phía vách đá nơi tổ thông tin của anh Bách vừa xuất kích nối dây.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.