Chương 4: Mùi Khét Của Đất Độc

Hơi lạnh toát ra từ lớp men bóng loáng truyền qua đầu ngón tay chai sạn khiến cụ Đàng Thị Mai Trâm khẽ giật mình. Suốt hơn một thế kỷ gắn bó với đất mẹ sông Quao, chưa bao giờ cụ chạm phải thứ sản phẩm nào kỳ dị đến thế. Nó không có hơi ấm êm dịu của hạt phù sa ngậm nắng, không có hơi thở phập phồng của thớ đất sét vừa nhào nước nguồn, mà trơ trơ, lạnh ngắt như mảnh sắt tây vùi sâu dưới đáy giếng hoang.

Cụ Trâm từ từ rút tay lại, ánh mắt quắc thước quét qua khoảnh sân đất nện. Ngọn gió bấc từ đồi cát Nam Cương vẫn ràn rạt thổi qua rặng me già, cuốn theo bụi cát khô khốc. Phía sau chõng tre, mấy người phụ nữ Chăm trong họ Đàng đang nhào đất cũng dừng hẳn tay, đưa mắt lo âu nhìn về phía bệ gỗ. Đàng Thị Thu Cúc đứng nép bên mé hiên nhà rường, hai bàn tay thô ráp chùi vội vào mép tạp dề dệt chỉ chàm, đôi chân mày thắt lại nặng trĩu.

“Mây!” Thanh âm cụ Trâm cất lên, trầm đục mà đanh gọn như tiếng gõ mõ tre đầu xóm. “Bưng chiếc bình này đặt lên bệ đất giữa sân cho Cố.”

Đàng Thị Như Mây thoáng ngơ ngác trước mệnh lệnh bất ngờ của cụ cố, nhưng trước vẻ mặt uy nghiêm bách tuế, cô không dám chần chừ. Đôi vai mảnh khảnh khẽ gồng lên, Mây cẩn thận ôm lấy chiếc bình gốm dập khuôn trơn tuột, bước từng bước rụt rè đặt nó lên khối đất nện tròn trịa giữa bãi sân – nơi bao đời phụ nữ họ Đàng vẫn dùng làm tâm điểm để nhịp chân đi lùi nắn vuốt.

Cụ Trâm chống cây gậy tre già xuống đất, từng bước khoan thai tiến lại gần bệ đất. Đôi bàn chân trần nứt nẻ của cụ in từng vết lõm vững chãi trên nền cát sông Lu lạo xạo. Cụ đứng sừng sững bên cạnh chiếc bình gốm của công ty Hoàng Long, vóc dáng còng nhẹ nhưng tỏa ra phong thái uy nghiêm của bậc tộc trưởng mẫu hệ.

Cụ vươn tay, những ngón tay gầy guộc chằng chịt gân xanh khẽ miết dọc từ vành miệng tròn trịa xuống đến phần đáy nở rộng. Cảm giác trơn tuột giả tạo dưới lòng bàn tay khiến cụ nhíu mày. Người thợ làng Bàu Trúc dùng da thịt để thấu hiểu đất sét; mỗi tấc phù sa nhào nặn ra đều phải có độ đàn hồi tự nhiên, biết thở cùng hơi ấm bàn tay con người. Nhưng chiếc bình trước mắt cụ hoàn toàn vô hồn. Thân gốm cứng đờ, bề mặt phẳng lì như một tấm tôn lạnh, không hề cảm nhận được sự hiện diện của những hạt cát mịn sông Lu – thứ khung xương cốt lõi nâng đỡ gốm qua ngọn lửa than nung rơm lộ thiên. Nó giống như một khối vật chất bị máy móc nghiền ép thô bạo, c**ng b*c thành hình trong chốc lát mà không trải qua sự lắng đọng nào của trời đất.

“Mây nhìn kỹ xem,” cụ Trâm cất tiếng, ngón tay trỏ gõ nhẹ lên thân bình phát ra tiếng kêu đanh nhưng khô khốc, rỗng tuếch. “Đất sông Quao kết duyên cùng cát sông Lu, dẫu thô ráp nhưng dẻo dai, ấm áp như da thịt con người. Chiếc bình này láng cóng, trơn trượt như da rắn, bên trong lại cứng quắt, lạnh ngắt. Đây là thứ hình hài bị sắt thép bức ép, không phải gốm sinh ra từ tình yêu và đôi tay phụ nữ Chăm.”

Mây bối rối bước lên nửa bước, hai tay xoắn chặt vạt áo sơ mi, giọng vội vã phân bua “Cố ơi, thời buổi công nghiệp hóa rồi, người ta dùng máy nén thủy lực ép hàng tấn lực vào khuôn mới được đều đặn tăm tắp như thế. Nhờ ép chặt nên mặt gốm mới láng, tiết kiệm được bao nhiêu công chuốt cạo bằng vỏ ốc. Khách hàng bên châu Âu chỉ chuộng sự tinh xảo, đồng đều này thôi. Cố đừng khắt khe quá mà lỡ mất cơ hội mở rộng xưởng của dòng họ...”

Cụ Trâm không đáp lời đứa cháu cố. Cụ khẽ nghiêng đầu, cúi sát mặt xuống miệng bình.

Đôi cánh mũi phập phồng đón lấy luồng khí quẩn quanh trong lòng gốm. Ngay khoảnh khắc ấy, gương mặt từng trải của cụ bách tuế lập tức biến sắc. Một mùi khét lẹt xộc thẳng vào khứu giác – thứ mùi hôi nồng, cay xè của hóa chất công nghiệp, hòa lẫn với mùi tanh lạnh của kim loại nặng. Nó hoàn toàn trái ngược với mùi thơm ngai ngái, thanh khiết của phù sa mùa nước lũ mà cụ đã gắn bó trọn vẹn một trăm linh bốn năm qua.

Lồng ngực cụ Trâm nghẹn lại bởi một cơn phẫn nộ dâng trào.

“Mùi này mà con dám bảo là gốm Bàu Trúc sao?” Cụ Trâm ngước mắt nhìn thẳng vào Như Mây, giọng nói rền vang khiến mấy chú chim sẻ trên mái ngói rường hoảng hốt vỗ cánh bay vụt lên trời. “Mùi khét của hóa chất, mùi hôi nồng của quặng lạ! Thứ đất này mà đem chứa nước thì người uống phải rước họa, đem nấu cơm thì con trẻ mang tật! Con vì mấy đồng bạc lợi nhuận mà để kẻ gian đưa đất độc vào làng nghề này ư?”

“Không phải đâu Cố!” Mây hốt hoảng xua tay, gương mặt thoắt cái trắng bệch. “Bên Hoàng Long họ cam kết đây là phụ gia kết dính hiện đại, nung xong sẽ an toàn tuyệt đối, đáp ứng đúng chuẩn xuất khẩu. Giám đốc Thắng bảo...”“Im miệng!”

Tiếng quát của cụ Trâm vang lên như một tiếng sét giữa trưa hè Ninh Phước. Trước ánh nhìn sấm sét của cụ, Như Mây giật bắn mình, líu lưỡi nghẹn lời. Bà Thu Cúc bên mé hiên run rẩy tiến lại vài bước, định lên tiếng can ngăn nhưng bắt gặp ánh mắt nghiêm khắc vô biên của bà ngoại, bà đành cắn chặt môi, cúi đầu lặng thinh.

Không để ai kịp phân bua thêm nửa lời, cụ Trâm dứt khoát nâng chiếc gậy tre già trong tay phải lên. Cây gậy bằng gốc tre đực nhẵn bóng vết mồ hôi trăm năm vung lên một đường dứt khoát, giáng thẳng vào hông chiếc bình gốm bóng loáng.

“Choang!”

Một âm thanh chát chúa xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của gian sân. Chiếc bình gốm công nghiệp vỡ toác làm đôi, đổ ụp xuống bệ đất nện, những mảnh vỡ sắc nhọn văng tung tóe trên nền cát.

Mùi khét hôi hám lập tức bốc lên ngột ngạt từ ruột bình vừa vỡ, tanh tưởi và cay xè cả sống mũi.

Kỹ sư Đạo Văn Hùng đứng bên chõng tre lập tức bước vội tới, đôi mắt sắc lẹm nhìn chăm chú vào mặt cắt của mảnh gốm vỡ. Cụ Trâm chống gậy bước lại gần, cúi đầu nhìn xuống. Dưới ánh nắng chói chang của vùng đất Phan Rang, lớp men mỏng manh bên ngoài vừa bong ra liền để lộ phần cốt đất bên trong xỉn màu xám tro kỳ dị, lấm tấm những vệt đen sẫm như xỉ quặng chứ tuyệt nhiên không có sắc đỏ hồng ấm áp của phù sa sông Quao nung rơm.

“Tổ tiên Ppo Yan ban cho người Chăm đất sạch để tạc nên sự sống, dạy con cháu bước chân đi lùi để giữ trọn cái tâm ngay thẳng!” Cụ Trâm run run chỉ đầu gậy vào mảng cốt đất xám xịt, từng lời nói đanh thép găm thẳng vào thinh không. “Mảnh đất này nuôi nấng bốn đời dòng họ Đàng, chưa từng có kẻ nào dám làm chuyện lừa thầy phản bạn, lấy độc chất đầu độc đồng loại để đổi lấy hư danh! Kẻ nào đem thứ đất bùn tanh tưởi này về làng Bàu Trúc, kẻ đó không xứng làm con cháu của đất mẹ!”

Cụ Trâm quay sang nhìn Như Mây, ánh mắt quắc thước chứa chan nỗi xót xa lẫn uy nghiêm tột bực “Cố cấm con từ nay về sau không được bước chân tới công ty Hoàng Long, không được dây dưa với tên Lục Văn Thắng nửa lời! Đống máy dập và đất lạ ngoài kia, lập tức đem trả hết cho người ta!”

Đàng Thị Như Mây đứng chết trân giữa sân, hai bờ vai gầy run lên bần bật. Đôi mắt cô dại đi nhìn đống gốm vỡ nát dưới chân, môi mấp máy như muốn thốt lên lời phân trần nhưng cổ họng nghẹn đắng, sắc mặt tái nhợt như không còn giọt máu. Nhìn vẻ hoảng loạn cùng cực và ánh mắt chột dạ lén lút của đứa cháu cố, cụ Trâm bằng kinh nghiệm đời người trăm năm nhìn thấu ngay một nỗi bất an tày trời đang bị che giấu. Đứa trẻ này không đơn thuần chỉ là nhẹ dạ nghe lời dụ dỗ, mà dường như đã lỡ chân thụt sâu vào một cái bẫy hiểm ác nào đó mà chưa dám thú nhận.

Khoảng sân nhà rường chìm trong bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.

Đúng lúc ấy, từ phía con đường làng dẫn vào cổng xưởng bỗng vang lên hàng loạt tiếng còi xe ô tô bóp inh ỏi, chói tai xé toạc không gian yên ắng.

Ngay sau đó là tiếng rồ ga gầm rú hung hãn của đoàn xe bán tải, kèm theo tiếng bước chân rầm rập và tiếng la lối thô lỗ xông thẳng qua cánh cổng gỗ vào khu đất tổ hai ngàn năm trăm mét vuông của dòng họ Đàng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.