Chương 1: Dấu Chân Trên Đất Sét

“Cố không ký. Bao đời nay phụ nữ họ Đàng chỉ nắn gốm bằng đôi tay và bước chân đi lùi, cớ sao nay cháu lại đòi rước bàn xoay với máy dập khuôn về làm ô uế sân nhà?”

Giọng cụ Đàng Thị Mai Trâm trầm đục mà đanh thép, ngân vang như tiếng trống Ghinăng giữa khoảng sân đất nện lạo xạo cát sông Lu. Giữa cái nắng tháng tư rát bỏng của đất Ninh Phước, người nghệ nhân bách tuế vẫn đứng vững chãi bên bệ kê cố định bằng gỗ me già. Đôi bàn chân trần nứt nẻ in đậm dấu tích phù sa khẽ nhấc lên, lùi một bước khoan thai vòng quanh khối đất sét sông Quao. Theo nhịp lùi chuẩn xác ấy, hai bàn tay già nua chằng chịt gân xanh của cụ áp sát vào hông khối đất, nhẹ nhàng vuốt miết. Không cần đến bất kỳ trục xoay cơ khí nào, thớ phù sa dẻo quánh dưới bàn tay cụ tự khắc dâng cao, nở tròn vành vạnh như vầng trăng rằm tháp cổ Po Klong Garai.

Đàng Thị Như Mây đứng sững bên mép hiên nhà rường, chiếc khăn rơmài thổ cẩm buông lệch trên bờ vai mảnh khảnh. Đôi bàn tay run rẩy của cô gái hai mươi sáu tuổi vẫn chìa ra tập hồ sơ in chi chít điều khoản cam kết. Gương mặt thanh tú đẫm mồ hôi lộ rõ vẻ sốt ruột khôn nguôi “Cụ cố ơi, thời buổi bây giờ khác xưa rồi! Đơn hàng xuất khẩu sang châu Âu của Công ty Mỹ nghệ Hoàng Long lên tới hàng ngàn sản phẩm, thời hạn giao hàng chỉ tính bằng tuần. Họ yêu cầu chuẩn hóa từng kích thước, sai một li là phạt tiền. Nếu xưởng mình không đưa máy dập khuôn và bàn xoay trợ lực vào tăng năng suất, lấy đâu ra sản lượng để kịp hợp đồng? Cứ khư khư nặn tay từng chiếc bình như thế này, dòng họ Đàng sẽ tụt hậu, rồi xưởng gốm đứng trước nguy cơ phá sản mất thôi!”

Như Mây quay sang nhìn mẹ, ánh mắt tha thiết cầu cứu một sự đồng thuận. Đàng Thị Thu Cúc đang ngồi sàng cát bên chái bếp liền giật thót mình. Bàn tay người phụ nữ năm mươi tuổi thô ráp, bám đầy bụi đỏ khẽ khựng lại giữa nia cát sông Lu. Bà Cúc ngước nhìn con gái với đôi mắt trĩu nặng âu lo, rồi lại len lén nhìn sang bà ngoại. Trong nếp nhà mẫu hệ Chăm, lời của người phụ nữ cao niên nhất chính là ranh giới bất di bất dịch; cụ Trâm thừa biết con gái dẫu thương con đến thắt ruột cũng chỉ dám nắm chặt vạt áo, không dám cất nửa lời phụ họa.

Cụ Mai Trâm không ngẩng đầu, đôi chân trần vẫn nhịp nhàng lùi thêm một bước. Bằng động tác cạo chuốt điêu luyện từ chiếc que tre uốn cong, cụ nhẹ nhàng gọt đi phần đất thừa nơi cổ bình, để lại bề mặt phẳng mịn màng. Cụ dừng chân, khẽ đưa vạt áo chàm dệt chỉ vàng chấm nhẹ vệt mồ hôi nơi khóe mắt sâu hoắm, rồi chỉ ngón tay khẳng khiu vào khối phù sa còn ướt “Cháu Mây, cháu nhìn cho kỹ khối đất này. Đất sét sông Quao hòa cùng cát mịn sông Lu là xương thịt của Ppo Yan Mẹ Đất ban cho làng Bàu Trúc. Cái hồn của gốm Chăm nằm ở chỗ người thợ lấy thân mình làm bàn xoay, lấy tâm mình làm khuôn mẫu. Bước chân đi lùi không phải là thụt lùi, mà là để mắt luôn trông chừng từng đường cong, giữ cho cái tâm mình không lệch khỏi đường ngay. Tâm vẹo thì gốm vỡ, lòng gian thì ngọn lửa rơm nung cũng hóa tro tàn. Đưa máy dập sắt thép vào dập hàng loạt, gốm ra đời vô hồn vô cảm, thì còn mặt mũi nào xưng danh gốm Bàu Trúc với tổ tiên?”Thanh âm của cụ Trâm chùng xuống, nhưng ánh mắt quắc thước lại xoáy thẳng vào đôi mắt đang chớp lia lịa của đứa cháu cố. Sống qua một thế kỷ đầy bão dông, cụ Trâm thừa hiểu từng nét mặt của con cháu trong nhà. Đằng sau những lý lẽ hùng hồn về công nghệ, về hội nhập và nguy cơ tụt hậu mà Như Mây vừa tuôn ra, ẩn sâu dưới đáy mắt cô bé là một nỗi hoảng loạn mơ hồ, một sự chột dạ đang bị đè nén đến nghẹt thở. Cụ Trâm nhận ra ngay đứa cháu gái bướng bỉnh này đang che giấu điều gì đó khuất tất, một mối hiểm nguy cận kề mà nó không dám mở miệng giãi bày cùng gia tộc.

“Cố ơi, cháu biết ơn đạo lý của tổ tiên...” Như Mây cắn chặt môi, giọng nghẹn lại nơi cổ họng, hai bàn tay siết chặt mép tập giấy tờ đến mức nhăn nhúm. “Nhưng nếu không bắt tay với người ta, xưởng mình không trụ nổi đâu...”

Lời phân trần của Như Mây chưa dứt thì một chuỗi âm thanh gầm rú chói tai bất chợt xé toạc bầu không khí yên bình của làng Bàu Trúc. Tiếng động cơ gầm gừ nặng nề dội vào vách gỗ nhà rường. Một chiếc xe bán tải màu đen bóng lộn lao vụt tới, phanh kịt lại ngay trước cổng gỗ dẫn vào khuôn viên hai ngàn năm trăm mét vuông của khu nhà rường cổ. Bụi đường đỏ quạch tung lên mù mịt, tạt qua hàng rào dâm bụt râm ran tiếng ve mùa hạ.

Trên thùng xe bán tải, ba cỗ máy dập cơ giới bằng thép xám lạnh lùng trơ trọi cạnh những bao tải đất xếp chồng ngổn ngang. Cùng lúc đó, một luồng gió chướng từ phía cổng thốc vào sân, mang theo mùi hôi hắc nồng nặc và khen khét lạ lùng xộc thẳng vào cánh mũi của cụ Mai Trâm. Đó tuyệt nhiên không phải mùi ngai ngái nồng ấm quen thuộc của đất phù sa sông Quao sau nắng hạn, mà là thứ mùi hóa chất nhân tạo nồng nặc, gắt gao đến lợm giọng. Lồng ngực người nghệ nhân một trăm linh tư tuổi khẽ thắt lại bởi một linh cảm chẳng lành về thứ đất lạ vừa xâm nhập vào chốn linh thiêng.

Cánh cửa xe bán tải bật mở. Một người đàn ông trạc bốn mươi tám tuổi bước xuống, dáng người đẫy đà trong bộ âu phục là lượt bảnh bao. Chiếc nhẫn ngọc lớn trên ngón tay hắn lóe sáng dưới ánh nắng gay gắt. Lục Văn Thắng vuốt lại mái tóc chải ngược bóng lộn, nở nụ cười niềm nở trơn tru, sải bước tiến vào giữa khoảng sân đất nện như thể bước vào chốn thân quen “Kính chào Nghệ nhân Nhân dân Mai Trâm! Chào cô Cúc, chào cô Mây! Nghe cô Mây nói xưởng mình đang băn khoăn về năng lực máy móc, tôi đích thân chở thiết bị và mẫu đất cải tiến sang để gia đình thẩm định đây!”

Nụ cười thương mại của người đàn ông trơn tuột như bôi mỡ, nhưng khi hắn cất lời chào, đôi mắt ti hí sau cặp kính gọng vàng lại không hề dừng lại nơi những thớt gốm mộc. Ánh mắt sắc lạnh đầy toan tính của Thắng kín đáo đảo một vòng quanh nếp nhà rường bốn mái bằng gỗ sao đen cổ kính, rồi dán chặt vào khoảng sân đất nện rộng mênh mông hai ngàn năm trăm mét vuông của dòng họ Đàng. Một tia sáng tham lam lóe lên nơi khóe mắt hắn, để lộ dã tâm đen tối vượt xa một bản hợp đồng gia công thông thường.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.