Chương 20: Khói Bếp Nà Pùng
Ánh lửa bập bùng từ gian bếp ba mươi sáu nóc nhà sàn hắt lên nền trời thung lũng một sắc đỏ ấm cúng giữa cữ rét cuối đông. Sương mù bảng lảng sà xuống ôm trọn triền đá Khau Vang, nhưng hơi lạnh buốt giá chẳng thể lấn át được mùi khói củi nghiến đượm nồng và hương miến dong ngọt dịu đang lan tỏa khắp xóm trên xóm dưới.
Cụ Mâu Thế Trực đứng bên khung cửa sổ gian giữa nhà sàn, bàn tay gân guốc thong thả đặt lên thành bậu gỗ mát rượi. Dưới gầm sàn, hai bồ củ dong bánh tẻ ủ trấu thơm mùi đất ẩm nằm ngay ngắn cạnh hai bồ thóc giống đầy ắp, sẵn sàng chia đều cho bà con xã viên cắm hom vào vụ xuân tới. Bên tai cụ, tiếng nước suối Vó Boong róc rách chảy qua mó đá hòa cùng tiếng lục lạc trâu lách cách vọng về từ bãi cỏ xa.
Sau lưng cụ, tiếng bước chân khẽ khàng bước lên từng bậc cầu thang gỗ dổi. Tỏ cùng Thảo cẩn thận khiêng mâm cỗ tất niên tiến vào gian thờ. Trên chiếc mâm đan bằng mây rừng là đĩa xôi nếp nương đồ hạt mẩy tròn, con gà đồi luộc vàng ươm ngậm cành hoa dong tía, và chính giữa là bát canh miến dong mộc bốc khói nghi ngút. Chiếc vòng bạc gia truyền nơi cổ tay Thảo khẽ chạm vào thành mâm, phát ra tiếng leng keng giòn tan.
“Ông nội ơi, mâm cúng tất niên chúng cháu đã sửa soạn tươm tất rồi ạ,” Tỏ cung kính thưa, gương mặt rắn rỏi rạng ngời vẻ chín chắn.
Cụ Trực khẽ gật đầu, lần giở nén hương trầm cuộn lá chuối châm vào đốm than hồng. Khói hương mảnh dẻ uốn lượn bay lên xà nhà bám đầy bồ hóng. Đứng trước bàn thờ tổ tiên, đôi mắt già nua của cụ ánh lên niềm thành kính sâu lắng “Lạy tổ tiên ông bà, lạy thần rừng Khau Vang, thần mó nước Vó Boong... Năm hạn khốc liệt đã qua, cái đói đã lùi xa khỏi bậc cửa. Bản Nà Pùng nhờ giọt nước khe trong, nhờ củ dong rừng ngậm sương mà giữ được nếp nhà, giữ được đàn con cháu. Xin trời đất chứng giám phù hộ cho nương rẫy xanh tươi, cho lòng người muôn đời bền chặt như cây nghiến đầu nguồn.”
Vừa dứt lời khấn, dưới chân cầu thang bỗng rộn lên tiếng cười nói xôn xao. Bác Luận, Đội trưởng Quách cùng Chủ nhiệm Bùi Khắc Chẩm dẫn theo đoàn bà con xã viên rộn rã bước lên sàn. Ai nấy đều mặc áo chàm mới tinh, gương mặt rạng rỡ nét hân hoan của một mùa thu hoạch thắng lợi trọn vẹn. Chẩm xách trên tay ấm trà bọc trong giỏ ủ ấm bằng rơm bện, cất giọng sang sảng “Cụ Trực ơi! Toàn thể Ban quản trị hợp tác xã cùng bà con đến mừng thọ cụ chín mươi tư tuổi, chúc cụ sống lâu trăm tuổi như cây gỗ nghiến trên đỉnh đèo Khau Vang đây!”
Cụ Trực mỉm cười hiền hậu, chống chiếc gậy trúc đực bước lại mép chiếu hoa: “Các chú, các bác lên cả đây cho ấm. Năm cùng tháng tận, có bát chè tươi, nồi canh ngọt thì cùng chia nhau một chút tình xóm giềng.”
Mọi người quây quần ngồi xuống quanh bếp lửa hồng. Đội trưởng Quách – người từng nghi ngại chê bai củ dong rừng thuở nào – nay nhìn Tỏ và Thảo với ánh mắt trìu mến khôn xiết. Ông Quách đặt tay lên vai Tỏ, cười hào sảng:“Hôm nay xóm trên chúng tôi thông suốt hết rồi. Bát canh miến gà đồi hôm họp bình xét đã làm cái bụng già này phục sát đất. Năm tạ miến giao đủ cho cửa hàng mậu dịch huyện Đà Bắc đón Tết Quý Hợi, cán bộ huyện về tấm tắc khen không ngớt lời! Vụ xuân này, xóm trên chúng tôi xin nhận hom giống từ hai bồ của cụ Trực để mở rộng thêm năm sào đất bãi ven suối.”
Bác Luận tiếp lời, giọng xúc động: “Đúng thế đấy cụ ạ. Mấy đứa thanh niên như thằng Thiết, thằng Luân giờ ngoan ngoãn chăm chỉ lắm. Chúng nó vừa cùng dân quân đi tuần rừng về, bảo là vạt nghiến sụn đầu nguồn từ ngày bắt gọn toán lâm tặc đến nay bình yên tuyệt đối, không còn một bóng người lạ dám bén mảng. Chúng nó bảo giữ được rừng thì suối Vó Boong mới có nước trong mà lọc bột làm miến chứ!”
Nghe những lời mộc mạc ấy, cụ Trực thấy trong lồng ngực già nua dâng lên một luồng ấm áp lạ thường. Cụ nhìn Chẩm đang cẩn thận rót nước chè ra từng chiếc bát sứ Hải Dương mời các bậc cao niên. Người chủ nhiệm từng cứng nhắc rập khuôn công điểm ngày nào giờ đây đã thực sự hiểu được cái lý của rừng, cái tình của đất. Chẩm nâng bát chè, khẽ thưa “Cụ Trực ạ, Ban quản trị đã ghi rõ vào sổ nghị quyết rồi. Tổ sản xuất miến dong mộc của thằng Tỏ, con Thảo sẽ là nòng cốt lâu dài. Hợp tác xã quyết giữ mó nước ngầm, cấm tiệt việc xâm phạm rừng cấm. Đất lành này có nghề miến nuôi sống con người, từ nay chẳng còn đứa trẻ nào phải bỏ bản dạt ra bến đò sông Đà nữa.”
“Tốt lắm, giữ được rừng là giữ được cái gốc muôn đời,” cụ Trực điềm đạm đáp lời, chòm râu bạc dài đến ngực khẽ rung rinh theo từng nhịp thở khoan thai. “Rừng cho củ dong, suối cho dòng nước mát. Con người chỉ cần chịu khó đổ giọt mồ hôi, biết nương tựa vào nhau mà sống thì đất đá cũng hóa thành cơm thành áo.”
Thảo nhanh nhẹn múc canh miến từ chiếc nồi đồng năm quai bốc khói nghi ngút ra từng chiếc bát con rồi kính cẩn bưng đến tận tay cụ Trực “Cháu mời ông nội nếm bát canh miến tất niên ạ.”
Cụ Trực đỡ lấy chiếc bát nóng hổi. Những sợi miến dong mộc màu vàng ngà hổ phách chìm trong làn nước dùng trong vắt, điểm xuyết vài nhánh hành tăm xanh mướt. Đưa thìa canh lên miệng, vị ngọt thanh mát lành của nước khe đá vôi hòa cùng độ dai giòn, bùi bùi đậm đà của tinh bột củ dong rừng lan tỏa khắp đầu lưỡi, thấm sâu vào tận ruột gan. Hương vị mộc mạc ấy chính là kết tinh từ bao ngày dãi dầu sương gió, từ những nhát cuốc khai hoang nhọc nhằn và sự chở che bao dung của đại ngàn Tây Bắc.
Nhìn quanh gian nhà sàn bập bùng ánh lửa, cụ thấy Tỏ đang ân cần gắp miếng thịt gà đồi bỏ vào bát cho Thảo, đôi trẻ nhìn nhau e ấp mà chan chứa nghĩa tình. Tiếng cười nói rộn rã của bà con xóm giềng hòa quyện trong tiếng củi nghiến nổ lách tách, xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo của đêm đông.
Cụ Trực thong thả tựa lưng vào cột gỗ tròn, phóng tầm mắt qua khung cửa sổ rộng mở. Đêm ba mươi Tết buông xuống thanh bình. Khói bếp ấm nồng từ ba mươi sáu nóc nhà sàn quyện vào mây núi, bay la đà qua đỉnh Khau Vang sừng sững uy nghiêm. Dưới chân thung lũng, dòng nước suối Vó Boong vẫn âm thầm chảy mãi, trong veo và bền bỉ như mạch sống ngàn đời của bản làng Nà Pùng. Một nụ cười an yên nở trên môi cụ già chín mươi tư tuổi, thảnh thơi đón mùa xuân mới đang gõ cửa núi rừng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
