Chương 13: Trắng Ngần đáy Chum

Gió mùa đông bắc rít từng cơn buốt lạnh qua vách đá, kéo theo màn mưa dầm sập xuống lòng thung lũng Nà Pùng. Đứng tựa thân gậy dưới mái hiên lán nứa, cụ Mâu Thế Trực nheo mắt nhìn ra mé nước suối Vó Boong. Đúng như cụ thầm lo, nước mưa từ triền đồi xối xả cuốn theo bùn đỏ khiến dòng chảy mé dưới bắt đầu ngả sang màu đục nhờ nhờ.

Bên trong lán, bốn chiếc cối đá lớn cùng những bàn mài gai tre đã ướt đẫm nước cốt củ dong vừa giã giập. Mấy chum sành xếp thành hàng dài dọc mép sàn, chứa đầy thứ nước nghiền sánh màu đỏ tía bốc lên thoang thoảng vị nồng ngái của nhựa rừng.

Thảo quỳ bên một vại gốm da lươn, hai bàn tay lạnh cóng sờ vào mép nước rồi ngước nhìn cụ Trực, giọng run lên “Cụ ơi, nước suối đục thế này thì làm sao múc vào thau rửa bột được nữa? Nước cốt dong để ngâm thế này, chỉ quá nửa đêm là mủ chua ăn vào tận lõi, hỏng hết mẻ củ công sức cả bản đào về mất thôi!”

Tỏ vừa buông chiếc chày gỗ nghiến nặng trịch xuống đất, vội vàng chạy lại mép lán. Nhìn dòng suối Vó Boong cuộn sóng phù sa đùng đục, mặt mũi chàng trai trẻ xám ngoét “Hay là ta cứ múc nước suối vào lắng tạm, chờ cặn bùn chìm xuống đáy rồi gạn lấy nước trong hả ông?”

“Không được!” Cụ Trực quắc mắt, giọng đanh lại dứt khoát. “Bột củ dong rừng nhạy như da em bé. Nước chỉ cần hơi vẩn một hạt phù sa hay dính chút phèn đất đồi là hạt bột xỉn màu ngay, miến làm ra sẽ đen sì, bở rục. Chưa kể mủ củ tía rất nhớt, không có nước ngọt lành xối rửa liên tục thì chỉ tới canh ba là bột lên men chua loét, có luộc lên cho lợn cũng chẳng thèm ăn!”

Không khí trong căn lán bỗng chốc đông cứng lại giữa tiếng mưa xối xả trên mái nứa. Mười sáu tạ củ tươi vừa gom về chẳng lẽ đành trơ mắt nhìn hóa thành bùn chua hỏng?

Cụ Trực hít một hơi dài, đưa mắt nhìn thẳng lên vách đá Khau Vang mờ mịt trong màn mưa rét. Ánh mắt già nua bừng lên sự quyết đoán của người cả đời gắn bó với từng nếp núi “Thằng Tỏ, thằng Thiết, thằng Luân đâu! Mau khoác áo tơi lá cọ vào. Lấy hết số ống nứa ngâm dưới sàn mang theo, đốt thêm ba ngọn đuốc nứa gác trên giàn bếp!”

Tỏ sững người giây lát rồi hiểu ngay ý ông nội “Ông định lên mó ngầm trong hang Khau Vang?”

“Phải! Nước suối ngoài bãi có thể đục do nước mặt tràn xuống, nhưng ruột núi vôi thì không bao giờ đục. Mạch nước ngầm sâu trong hang đá Khau Vang là nguồn nước khe trong vắt nhất vùng này. Ta phải ghép thêm máng nứa, dẫn thẳng nước từ ruột hang ra tận miệng chum!”

Lời cụ Trực như liều thuốc trợ lực xua tan nỗi hoang mang. Tỏ thoăn thoắt châm lửa vào những bó đuốc nứa tẩm dầu trẩu, lửa bùng lên đỏ rực soi rõ những khuôn mặt căng thẳng. Đám trai bản nhanh chóng vác lên vai những lóng nứa to bằng bắp chân đã đục rỗng mắt, rầm rập bước theo bóng áo chàm của cụ Trực.

Dưới trời mưa lạnh buốt, cụ Trực cắm mũi gậy xuống nền đất nhão nhoét, nhẫn nại dẫn đường men theo gờ đá tai mèo trơn trượt. Gió thốc từng hồi tạt nước mưa rát rạt vào mặt, nhưng bàn chân già nua bám chặt kẽ đá như rễ cây cổ thụ. Đến cửa hang đá vôi Khau Vang, tiếng nước róc rách chảy rộn rã trong vòm tối sâu thẳm át cả tiếng gió gầm rít bên ngoài.

Cụ Trực giơ cao ngọn đuốc, chỉ vào kẽ nứt đá rêu phong nơi mạch nước ngầm đang tuôn trào “Kê một tảng đá làm trụ đỡ ở miệng hang! Thằng Tỏ đón lấy ống nứa cái, áp chặt vào miệng kẽ đá. Thiết với Luân lấy dây mây lèn chặt các khớp nối, cứ ba sải tay lại đóng một cọc chẽ ba giữ thăng bằng!”

Mấy chàng trai hò nhau ghì nứa, chẻ mây. Những đôi tay rắn rỏi cào đá, lội bì bõm trong dòng nước buốt lạnh thấu xương để cố định thân máng. Cụ Trực đứng bên mỏm đá chỉ huy từng khấc nối, ánh lửa đuốc chập chờn rọi lên gương mặt khắc khổ đầy kiên nghị. Từng ống nứa già được gối đầu lên nhau, chênh chếch men theo vách đá lao thẳng xuống căn lán dưới chân đồi.

Chỉ tàn một tuần trà, dòng nước khe ngầm mát rượi, trong vắt như mắt mèo đã ùa vào lòng máng, ào ào trút xuống ba tầng máng chia đặt ngay giữa lòng lán nứa.

“Nước về rồi! Nước trong vắt như gương cụ ơi!” Tiếng Thảo reo lên rộn rã át cả tiếng mưa gió.

Cụ Trực chống gậy trở lại lán, mái tóc bạc và chòm râu ướt đẫm nước mưa nhưng đôi mắt sáng ngời. Cụ đưa tay hứng lấy dòng nước mát lành, nếm thử một ngụm rồi gật đầu hài lòng:“Nước ngọt lịm, không vướng tí bùn nào. Mau tay lên các con, bắt đầu đãi bột!”

Dưới ánh đèn bão leo lét, cả căn lán bừng lên nhịp lao động khẩn trương. Tỏ cùng đám trai tráng dùng gáo dừa múc nước khe xối mạnh vào cối đá nghiền củ, đánh tan khối xơ củ dong đỏ au để tinh chất hòa vào nước.

Ở hàng chum sành, Thảo đảm đang phụ trách khâu lắng lọc. Cô thoăn thoắt buộc chặt ba lớp vải màn mịn căng như mặt trống trên miệng từng chiếc vại gốm. Cụ Trực đứng sát bên cạnh, cất tiếng chỉ bảo tỉ mỉ “Cháu dội nước từ từ thôi, tay khoắng nhẹ cho bột lọt qua từng thớ vải, bã xơ giữ lại trên mặt màn. Đãi xong một lượt thì lấy lông gà rừng gạt sạch lớp bọt vàng nổi lên trên mép nước, đấy là váng mủ chát đấy!”

“Vâng, cháu nhớ rồi cụ!” Đôi bàn tay thon thả của Thảo thoăn thoắt đảo đều trên mặt vải màn. Từng dòng nước bột trắng đục như sữa bắp non từ từ lọt qua các kẽ vải, tí tách rơi xuống lòng chum sành sâu thẳm. Mỗi khi có lớp bọt vàng nhờ nhờ sủi lên, Thảo lại khéo léo dùng lông gà quét sạch, không để một gợn mủ chua nào đọng lại.

Nước khe trong liên tục tuôn tràn từ ống nứa ngầm, được chia đều sang các vại để thau rửa khối tinh bột. Cứ sau nửa canh giờ, cụ Trực lại chỉ Tỏ nghiêng vại gạn bỏ lớp nước chát bên trên, rồi lại chêm thêm một lượt nước khe trong vắt vào khuấy đều cho lắng lại. Mùi hăng nồng của nhựa củ tía vơi dần, nhường chỗ cho hương thơm thanh khiết của rễ cây ngậm sương rừng.

Suốt đêm dài, cụ Trực không hề chợp mắt. Cụ ngồi bên bếp lửa củi nghiến gian lán, chốc chốc lại gượng dậy đến từng miệng chum sành, soi đèn kiểm tra độ lắng của từng lớp bột. Tỏ và Thảo nhìn tấm lưng còng áo chàm đẫm sương đêm của người già làng mà lòng dâng lên niềm cảm phục khôn xiết, mỏi mệt nơi tay chân dường như tan biến hết.

Đến lúc phương đông hắt lên những vệt rạng đông màu lòng đỏ trứng gà, mưa lạnh bất chợt tạnh hẳn. Gió bấc cũng ngừng gầm rú, trả lại bầu không khí trong trẻo, se sắt cho thung lũng Nà Pùng.

Cụ Trực bước tới chiếc chum sành lớn nhất đặt ở góc lán. Cụ gật đầu ra hiệu cho Tỏ “Thằng Tỏ, gạn lớp nước mặt đi con!”

Tỏ cẩn thận dùng gáo dừa múc hết lớp nước trong văn vắt nổi phía trên, để lộ ra đáy chum một khối chất đặc quánh phẳng phiu như mặt gương. Cụ Trực xắn tay áo chàm, thò bàn tay già nua xuống, dùng một thanh tre mỏng nạo sâu vào lòng chum rồi nhấc bổng một mảng bột lên.

Cả căn lán nín thở dõi theo.

Dưới ánh ban mai rọi qua vách nứa, mảng bột dong dày cộp hiện ra, bẻ đôi nghe một tiếng “tách” giòn giã. Khối bột bên trong đặc quánh, trắng ngần không một tì vết như tuyết đọng trên đỉnh núi đá mùa đông. Cụ Trực đưa mẩu bột lên mũi hít một hơi thật sâu. Không hề có chút mùi men chua hay vị chát của mủ rừng, chỉ có hương thơm dịu nhẹ, thuần khiết của thảo mộc tự nhiên hòa quyện với vị thanh mát của nước khe ngầm.

“Được rồi! Tinh bột kết tinh rồi các con ơi!” Cụ Trực nở nụ cười rạng rỡ, giọng run run xúc động.

Thảo sung sướng reo lên, ôm chầm lấy cánh tay Tỏ “Trắng quá anh Tỏ ơi! Bột dong rừng mà trắng ngần thế này, mẻ miến đầu tiên nhất định sẽ dai giòn lắm đây!”

Tỏ nhìn tảng bột trắng nõn trên tay ông nội, đôi mắt đỏ hoe vì thức trắng đêm bỗng ánh lên niềm vui sướng tột cùng. Mấy chàng trai bản cũng xúm lại quanh chum, rộn rã tiếng cười nói thở phào sau một đêm dốc cạn sức lực giành giật mẻ bột với mưa lũ.

Cụ Trực mỉm cười nhìn con cháu, trong lòng dâng trào niềm nhẹ nhõm vô bờ. Cụ quay sang bảo Thảo “Mau chuẩn bị mấy cái nong tre sạch phơi bột đón nắng sớm…”

Lời cụ chưa dứt thì từ phía rừng cấm Khau Vang mù mịt sương sớm, một phát súng kíp đanh gọn nổ đoàng vang rền, xé toạc sự tĩnh lặng của thung lũng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.