Chương 22: Bàn Tay Đắp Lại Vách Đất
Sương mù còn giăng mỏng tang như dải voan trên sườn Đồi Quế Thượng, tiếng đòn gánh kẽo kẹt cùng tiếng bước chân rậm rịch đã đánh thức góc chân núi vắng lặng. Cụ Triệu Vĩnh Nghiệp chống chiếc gậy trúc già, đứng bên bờ rào dâm bụt nhìn sang con đường mòn dẫn vào nhà mẹ con Chở. Đúng như lời hẹn của bác Lò Văn Sùng hôm qua ở sân kho, bà con Đội 2 cùng tổ thanh niên do cán bộ Bằng dẫn đầu đã lục tục kéo tới, người khiêng cọc gỗ nghiến, kẻ gùi từng tảng đất sét vàng óng lấy từ ven bờ suối.
Căn nhà trình tường của góa phụ Chở nép mình dưới bóng những cây quế cổ thụ. Mấy tuần mưa gió dầm dề cùng những đêm kinh hoàng trước đây đã khiến lớp vách đất nện nứt nẻ từng vệt dài, mái ngói âm dương xô lệch loang lổ nhiều chỗ dột nát. Nhưng sáng nay, bầu không khí u uất bao phủ quanh mảnh sân đất đã biến mất không còn tăm tích.
— Cụ Nghiệp sang sớm thế ạ! — Hoàng Văn Bằng xắn cao ống tay áo sơ mi xanh, mồ hôi lấm tấm trên trán nhưng đôi mắt sáng lấp lánh nụ cười. Anh vừa cùng hai thanh niên hạ sọt ngói âm dương còn đượm mùi đất nung xuống thềm.
Cụ Triệu mỉm cười, gật đầu chào Bằng rồi đưa mắt nhìn vào góc sân. Ở đó, một hố đất sét lớn đã được đào sẵn. Mấy người đàn ông khỏe mạnh trong đội đang trộn thêm rơm khô băm nhỏ, dẫm chân thùm thụp để nhào vữa đất cho thật dẻo quánh. Bác Lò Văn Sùng bắc thang tre thoăn thoắt trèo lên mép mái, tay gỡ từng viên ngói sứt mẻ chuyền xuống dưới, miệng rổn rảng — Mấy đứa dưới sân chuyền ngói lành lên đây! Tranh thủ nắng sớm chưa gắt, ta lợp lại cho xong cái chái hiên đón gió này trước!
Mùa Thị Chở hôm nay không còn co ro nép sau bóng người khác như những ngày u tối vừa qua. Cô mặc chiếc áo chàm đã giặt sạch tinh tươm, tóc búi gọn sau gáy, hai bàn tay thoăn thoắt nhào đất cùng các chị em trong bản. Vạt áo cô lấm lem bùn đất vàng ươm, nhưng khóe miệng luôn nở nụ cười rạng rỡ, đôi mắt đã ráo hoảnh những giọt lệ tủi hờn. Chốc chốc, Chở lại chạy vào gian bếp nhỏ, nơi ngọn lửa đỏ rực đang reo vui dưới chõ xôi nếp nương bốc khói nghi ngút.
Mùi nếp nương thơm ngọt ngào quyện với mùi lá chuối tươi lan tỏa khắp mảnh sân, át đi mùi ẩm mốc tích tụ bấy lâu. Chở bưng một ấm nước vối lớn ra đặt trên chiếc chõng tre kê dưới bóng râm, cất giọng trong trẻo — Các bác, các anh nghỉ tay uống bát nước vối cho ấm bụng rồi làm tiếp! Nước cháu hãm từ lá vối đồi quế đấy ạ!
— Con Chở cứ để đấy! — Một bà thím người Nùng vừa miết lớp bùn nhão vào vết nứt trên vách vừa cười đùa. — Lát nữa xong xuôi bức tường này, chúng tao phải ăn bằng hết chõ xôi nếp của mày mới chịu về đấy nhé!
Tiếng cười nói râm ran làm xao động cả tán lá quế sau nhà. Đứng tựa lưng vào cột hiên, cụ Triệu khẽ nghiêng người, đưa tai phải đón lấy từng âm thanh rộn rã ấy. Trong lòng cụ, một cảm giác ấm áp, thanh thản dâng lên tựa như dòng suối ngầm sau mùa khô cạn.
Bỗng một bóng dáng nhỏ thó từ trong buồng chạy vụt ra sân. Bé Sùng A Tủa tay cầm chiếc chong chóng gấp bằng lá chuối xanh ngắt, cắm trên một cọng cật nứa nhỏ. Đứa trẻ sáu tuổi tung tăng chạy vòng quanh đống rơm khô, chiếc chong chóng quay tít mù trong ngọn gió ban mai.
Thấy cụ Triệu và Bằng đứng cạnh chõng tre, bé Tủa liền chạy xộc tới, ngửa khuôn mặt bầu bĩnh lên khoe — Ông cụ ơi, chú Bằng ơi! Chong chóng của cháu quay tít này! Gió không làm nó gãy đâu!
Cụ Triệu cúi xuống, bàn tay thô ráp chai sần khẽ xoa nhẹ lên má đứa trẻ. Cụ cười hiền hậu — Chong chóng khéo lắm. Có gió lành thì nó mới quay đều thế này chứ, phải không Tủa?Bằng ngồi xổm xuống, đón lấy bàn tay nhỏ nhắn của Tủa. Nhìn đôi mắt trong veo, thơ ngây của đứa bé, ngực anh chợt nghẹn lại. Anh nhớ đến lời dặn của người cha quá cố của Tủa từ hai năm trước về những bóng đen lén lút bên vách đá. Lời trăng trối trong u uất của người thợ rừng xấu số ấy, trải qua bao nhiêu hàm oan và hiểm nguy, cuối cùng cũng được sự kiên định của cụ già và công lý của bản làng đền đáp trọn vẹn. Thằng bé Tủa từ nay sẽ lớn lên trên mảnh đất này mà không còn phải nơm nớp sợ hãi tiếng ma rừng hay những ánh mắt xua đuổi của người đời.
— Cháu ngoan lắm, — Bằng khẽ nói, chỉnh lại cuống lá chuối trên tay Tủa. — Cứ chạy chơi đi, hôm nay các bác, các chú sửa xong nhà cho hai mẹ con rồi đấy.
Đứa trẻ reo lên một tiếng giòn tan rồi lại đuổi theo bóng nắng chạy về phía góc vườn. Bằng đứng dậy, rót hai bát nước vối sóng sánh, kính cẩn đưa một bát cho cụ Triệu — Cháu mời cụ uống nước ạ.
Cụ Triệu đón lấy bát nước gốm thô, nhấp một ngụm nhỏ. Vị chát nhẹ nơi đầu lưỡi nhanh chóng tan biến, nhường chỗ cho vị ngọt hậu ấm nồng lan tỏa nơi cuống họng. Cụ nhìn Bằng, thấy người cán bộ trẻ nhìn chăm chú vào những bàn tay đang tỉ mẩn miết từng tảng đất sét lên vách nhà.
— Nhìn bà con giúp nhau thế này, cháu thấy lòng nhẹ nhõm hẳn, cụ ạ, — Bằng bộc bạch, giọng trầm xuống đầy xúc động. — Những ngày đầu về Nặm Sương, cháu cứ nghĩ chỉ cần đem sách vở, đem những điều luật rành rọt ra giải thích là xóa bỏ được hủ tục, thuyết phục được dân bản. Nhưng cháu đã nhầm. Nếu không có cụ dạy cho cháu biết lắng nghe tiếng gió, hiểu được nếp nghĩ mộc mạc và cả những nỗi sợ cắm rễ trong lòng người, thì chắc cháu đã chẳng thể nào lần ra chân tướng cạm bẫy trên vách Thau Chua.
Cụ Triệu đặt bát nước xuống mặt chõng tre, khẽ lắc đầu, ánh mắt đượm vẻ bao dung — Chú Bằng đừng nghĩ thế. Cái lý lẽ, cái chữ của chú mang lại ánh sáng công bằng cho người nghèo. Lão già này cả đời chỉ biết đi rừng, quen với cây tre, hòn đá. Rừng núi có quy luật của rừng núi, nhưng lòng người mới là thứ khó đoán định nhất. Khi người ta sợ hãi, người ta dễ nghe theo điều ác; nhưng khi nỗi sợ được cởi bỏ, cái tình cái nghĩa trong máu thịt bà con lại trỗi dậy thôi. Chú có cái tâm sáng, lại chịu lăn lộn với dân, ấy là cái phúc của bản Nặm Sương này.
Bằng im lặng lắng nghe, gật đầu đón nhận bài học sâu sắc của người nghệ nhân già. Đó là bài học thực tiễn vô giá mà không một trang giáo trình nào ở trường lớp có thể truyền tải hết được.
Đến quá trưa, bức vách đất bị nứt đã được trát kín phẳng phiu, lớp bùn mới đanh lại dưới nắng thu vàng rộm. Những viên ngói vỡ trên mái hiên đã được thay bằng ngói âm dương mới tinh, xếp khít khao thẳng tắp. Mùa Thị Chở khệ nệ bê chõ xôi nếp nương nghi ngút khói đặt lên chiếc bàn con giữa sân. Xã viên Đội 2 cùng đám thanh niên quây quần lại, vừa ăn xôi nếp dẻo thơm vừa râm ran chuyện trò, tiếng cười nói xua tan đi tất cả những bóng ma u tối từng đè nặng lên xóm núi.
Cụ Triệu đứng lặng bên gốc quế già, nhìn Chở ân cần xới từng nắm xôi trao tận tay những người hàng xóm từng một thời xa lánh mình. Nhìn nụ cười bình yên, thanh thản nở trên gương mặt người góa phụ, cụ Triệu khẽ thở phào. Gánh nặng che chở bấy lâu cụ mang trên vai nay đã có thể buông xuống. Mẹ con Chở không còn là những kẻ đơn độc bên lề bản làng nữa; từ nay, họ đã thực sự có một mái nhà lành lặn, đứng vững chãi giữa tình làng nghĩa xóm, và trong thâm tâm cụ, mẹ con cô từ lâu đã là ruột thịt trong nhà.
Mặt trời ngả dần về sau rặng núi phía tây. Ráng chiều đỏ ối nhuộm thắm những vạt đồi quế ngát hương. Khi tiếng bước chân của bà con và tổ thanh niên lục tục kéo nhau ra về khuất sau con dốc, không gian lại trở về vẻ tĩnh mịch quen thuộc của núi rừng.
Cụ Triệu Vĩnh Nghiệp chống gậy, chầm chậm bước ra mép đồi. Cụ ngước mắt nhìn lên vách Thau Chua sừng sững giữa trời cao. Trong ánh ráng chiều đỏ rực như lửa than, vách đá tai mèo trông vừa uy nghiêm vừa lạnh lùng.
Tai phải cụ lại bắt được tiếng gió chướng đầu mùa khẽ rít qua các hốc đá trên cao. Nơi đó, dàn phong linh bảy gióng tre gai vẫn đang đón gió, và ở lưng chừng vực thẳm ấy, vẫn còn một món nợ ân tình sâu nặng của quá khứ đang chờ cụ khép lại.
Nắm chặt thân gậy trúc trong tay, cụ Triệu tự nhủ lòng: sớm mai, cụ sẽ tự mình thực hiện một chuyến leo núi cuối cùng trong đời.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
