Chương 20: Ánh Lửa Đèn Dầu Rái

Bọt sóng tung trắng xóa quanh mạn chiếc thuyền tuần mũi cong to lớn lộng lẫy. Mũi thuyền vừa rẽ cát mịn cập sát mé bến Bãi Làng, tấm ván cầu gỗ kiền kiền đã được lính thủy nhanh chóng hạ xuống. Đi sau viên thông phán áo gấm chính là quan Cai bạ của dinh Quảng Nam trong bộ triều phục thụng đỏ thêu sóng nước, nét mặt nghiêm cẩn toát lên vẻ uy nghi của bậc quan nha phụ trách việc nông tang thuế khóa chốn hải đảo.

Thấy bóng áo quan lớn, Tạ Đô giật thót mình, chiếc quạt lông ngà rơi tuột xuống cát lúc nào chẳng hay. Gã vội quỳ sụp, lết hai đầu gối run rẩy dập đầu lia lịa: — Khởi bẩm quan lớn... Bản chức là Cai đội Tạ Đô, chẳng hay quan lớn quang lâm ra cù lao có điều chi quở phạt...

Quan Cai bạ chẳng buồn liếc mắt nhìn Tạ Đô, sải bước thẳng vào giữa sân đình Bãi Làng. Ánh mắt ngài dừng lại bên những sọt yến già thơm ngát vừa được cân xong dưới bóng mát cây bàng biển cổ thụ. Ngài đưa tay nhấc một chiếc tổ yến trắng muốt, khẽ miết ngón tay lên vành tổ dày cộp rồi gật đầu tán thưởng: — Khí vị thanh khiết, sợi yến ngậm sương gió dãi dầu đan bện rắn rỏi, không vướng chút máu tanh non nớt. Đúng là yến quang thượng phẩm hiếm có của biển trời xứ Quảng!

Viên thông phán kính cẩn mở dải lụa vàng bọc ngoài phong sắc chỉ, cất giọng xướng to giữa bầu không khí trang nghiêm: — Phụng mệnh triều đình! Phường thợ yến Bãi Làng giữ vẹn đạo nghề, dâng nộp đủ một trăm hai mươi lăm cân yến già loại một phẩm cấp cao nhất về kinh đô Phú Xuân. Quan Trấn thủ cùng bản nha xét thấy công lao to lớn, ban thưởng biển ngạch bảo an “Nghĩa Dũng bi*n đ*ng” treo trước miếu tổ, đồng thời đặc ân miễn giảm toàn bộ sưu dịch thuế khóa ba năm liền cho toàn thể xóm đảo!

Tiếng xướng vừa dứt, hàng trăm dân chài cùng phường thợ vỡ òa reo hò rền vang át cả tiếng sóng vỗ gành. Mẹ Mùi ôm chầm lấy vai Bằng, nước mắt nghẹn ngào rơi lã chã trên vạt áo thô. Bằng siết chặt bàn tay mẹ, lồng ngực đập rộn ràng từng nhịp đanh gọn. Thế là kiếp này, bóng ma sưu thuế hà khắc và nỗi oan khuất đòn roi của quan nha đã vĩnh viễn không còn đè nặng lên xóm nghèo Bãi Làng.

Nét mặt quan Cai bạ bỗng đanh lại, ngài quét ánh nhìn nghiêm khắc về phía Tạ Đô: — Riêng Cai đội Tạ Đô, cậy quyền hà h**p dân lành, bức bách thu vét yến non trái quy tắc đạo nghề, lại ngấm ngầm cấu kết với gian thương Mã Triệu Vinh hòng trục lợi mây mục, coi rẻ tính mạng thợ giàn. Xét tội khó dung, nay bãi bỏ chức vụ Cai đội Tuần hải, tịch thu ấn tín, điều chuyển làm lính chèo thuyền canh gác đồn thú ải xa!

Nghe phán quyết rành rẽ, Tạ Đô sụp xuống như đống giẻ rách, mặt xám ngoét không còn hột máu. Hai tên lính tuần lập tức bước tới tước đao, lột bỏ áo chẽn lụa xanh rồi áp giải gã xuống thuyền. Nhìn bóng lưng còng rạp của gã cai đội hung bạo kiếp trước khuất dần nơi chân sóng, Bằng trút một hơi thở dài nhẹ nhõm, mối ân oán quan quyền ngột ngạt bao năm qua cuối cùng đã được rũ sạch.

Trưa hôm ấy, khói hương trầm nghi ngút lan tỏa khắp mái miếu tổ nghề yến nép mình dưới tán cây bàng biển cổ thụ. Thợ cả Lê Định cùng chú Bảy Sậy, chú Hai Rái và mười hai thợ bạn đứng tề chỉnh trước hương án đá. Trên bàn thờ, tấm biển ngạch bảo an sơn son thiếp vàng ngời sáng bên làn hương thơm ngát.

Lê Định kính cẩn cắm ba nén hương lớn vào lư đồng, sụp lạy ba lạy tạ ơn trời biển đã che chở cho phường thợ bình an qua đêm bão dữ. Xong xuôi, ông xoay người lại đối diện với anh em, ánh mắt nhìn Bằng chan chứa niềm tự hào. Ông tháo chiếc rựa cùn giắt bên đai gai, hai tay nâng ngang ngực bước tới trước mặt con trai: — Bằng, con trai của cha! Trải qua bao phen hiểm nghèo nơi vách đá Hang Hạc, con đã dùng tài nghệ và tấm lòng giữ vẹn tính mạng cho cả phường thợ. Chiếc rựa cùn này từng theo cha bao mùa sóng gió, nay cha chính thức trao lại cho con, cùng quyền truyền dạy ngón nghề chốt nêm kép gỗ nghiến và dây mây ngâm nước biển cho khắp anh em.

Bằng bước lên một bước, cung kính đón lấy chiếc rựa cùn bằng cả hai bàn tay chai sạn. Lưỡi rựa mòn vẹt theo năm tháng, chuôi mun bóng loáng truyền vào lòng bàn tay cậu hơi ấm nồng nàn của tình phụ tử và trọng trách thiêng liêng. Bằng ngẩng cao đầu, dõng dạc cất lời trước bài vị tổ nghiệp: — Con xin tạ ơn cha cùng các chú bác! Nay trước hương linh tiền nhân, phường thợ Bãi Làng xin lập lời thề khắc cốt ghi tâm: Ăn lộc biển phải giữ gốc biển, tuyệt đối chỉ khai thác khi cánh chim non đã đủ lông cất cánh bay xa!

— Ăn lộc biển phải giữ gốc biển! — Toàn thể phường thợ đồng thanh hô vang, lời thề đạo nghề rền vang hòa cùng tiếng sóng vỗ gành.Khi bóng chiều dần buông xuống bờ cát thoai thoải Bãi Làng, cả xóm chài rộn rã mở hội ăn mừng. Những bếp lửa bập bùng được nhóm lên suốt dải cát vàng. Mùi cá thu nướng béo ngậy quyện cùng cháo yến ngọt lịm lan tỏa khắp xóm. Dân làng quây quần tíu tít, tiếng cười giòn giã xua tan đi bao âu lo sau cơn bão dữ.

Bên bàn tiệc kê bằng ván thuyền dưới rặng phi lao, chú Bảy Sậy bưng chén rượu nồng bước tới cạnh Bằng. Đôi mắt người thợ lặn từng trải đỏ hoe ngấn nước. Chú vỗ mạnh vào vai Bằng, nghẹn ngào: — Bằng ơi! Kiếp này nếu không có cái rựa cùn của cháu ghì then hãm trên gờ đá Hòn Khô, rồi lại có chốt nêm kép gỗ nghiến neo giữ giàn leo trong đêm bão mười sáu tháng Bảy, thì nắm xương tàn của thằng Sậy này với anh em thợ bạn đã vùi sâu đáy Vực Sóng Thần rồi! Cái ơn cứu mạng này, chú tạc dạ ghi lòng!

Năm Cát, Ba Đen cùng các thợ bạn cũng đồng loạt giơ cao chén rượu, nét mặt rạng rỡ: — Đúng rứa đó cháu Bằng! Nhờ ngón nghề mây ngâm biển và chốt nêm của cháu, từ nay anh em ra vách đá không còn phải đánh cược tính mạng nữa. Con cháu Bãi Làng đời đời có con đường sinh kế vững bền rồi!

Bằng mỉm cười khiêm nhường, hai tay nâng chén nước chè xanh cụng nhẹ vào chén rượu của các chú bác: — Dạ, cháu chỉ góp chút sức mọn. Giàn leo đứng vững được là nhờ sự đồng lòng keo sơn, không bỏ rơi nhau của cha và toàn thể chú bác giữa lúc hiểm nguy đó thôi!

Màn đêm buông xuống êm ả, dịu dàng. Vầng trăng tròn vành vạnh treo lơ lửng trên nền trời xanh thẫm, rưới ánh bạc lung linh xuống mặt biển Cù Lao Chàm phẳng lặng như gương.

Dưới mái chái nhà tranh ven bãi cát, ngọn đèn dầu rái đỏ rực tỏa ánh sáng ấm áp. Mùi dầu rái ngai ngái nồng đượm quen thuộc phảng phất trong gian nhà nhỏ, gợi nhớ những đêm hai cha con cùng chú Bảy thức trắng bên vạc dầu sôi sùng sục để tôi luyện từng sợi mây dẻo đanh như da trâu mộng.

Trên chiếc chõng tre con, mâm cơm đoàn viên nóng hổi khói bay nghi ngút. Mẹ Mùi âu yếm gắp miếng cá nướng vàng ruộm vào bát của hai cha con, nụ cười hiền hậu rạng rỡ niềm hạnh phúc vẹn tròn: — Ăn nhiều vô nghe con, mấy ngày ngoài hang dầm gió lạnh gầy rộc cả người rồi!

Lê Định ngồi đối diện, nhấp chén trà đậm, nhìn con trai ngập tràn yêu thương và tin cậy. Khớp gối chân trái của ông sau khi được Bằng đắp lá thuốc ấm đã dịu hẳn cơn đau nhức, trút bỏ hoàn toàn gánh nặng giấu bệnh bấy lâu trong sự sẻ chia của gia đình.

Bằng buông đũa, lặng lẽ cúi nhìn xuống đôi bàn chân trần của mình. Đôi bàn chân mười ba tuổi lành lặn, vững chãi cắm chặt trên nền đất cát quê hương, không còn chiếc nẹp tre xiêu vẹo, không còn những cơn buốt nhói tê dại và bước đi khập khiễng dằn vặt suốt bốn mươi năm kiếp trước. Cậu xòe hai bàn tay ra, những vết rách ngày nào nay đã liền miệng thành những vết chai sần dày dặn, rắn rỏi như thớ đá hoa cương.

Bốn mươi năm dằn vặt, đau đớn và ân hận trong bóng tối tàn phế kiếp xưa giờ đây hoàn toàn tan biến, sạch bóng như bọt sóng tan vào lòng biển cả bao dung. Vết thương sâu hoắm nơi đáy lòng cậu đã thực sự khép miệng, nhường chỗ cho sự thanh thản vô bờ, tình mẫu tử, phụ tử ấm áp và niềm tin yêu cuộc đời tha thiết.

Gió biển đêm thổi qua hiên nhà, mang theo vị mặn mòi quen thuộc của ngàn trùng sóng gió vỗ về xóm đảo thanh bình. Ánh lửa ngọn đèn dầu rái vẫn bập bùng soi tỏ ba bóng người quây quần bên mâm cơm, ấm sực và bình yên như chính tấm lòng của những con người gắn đời mình với biển khơi.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.