Chương 18: Nắng Rọi đồng Vàng
Bách nép vào bờ vai lực lưỡng còn nồng mùi bùn đất của người trưởng ấp, nghe rõ từng nhịp thở dồn dập và hơi ấm truyền qua lớp bao bố. Bàn tay chai sần của bác Tư Đước vỗ nhè nhẹ lên lưng thằng nhỏ, chan chứa niềm chở che như người ruột thịt trong nhà. Bách ngước đôi mắt tròn xoe, lí nhí đáp: — Dạ… con chỉ thấy con Khoang Cổ với bầy vịt cứ lặn chúc đầu hoài mé chân bờ bao, nhớ lời ba dặn nên con mới liều nhảy xuống mò thử… May mà có bác Tư với mấy anh tới kịp, chớ một mình con đâu ngăn nổi dòng nước dữ.
Bác Tư bật cười giòn tan, vỗ nhẹ lên vai Bách: — Thằng Bách thiệt tình, có công lớn mà còn khiêm tốn dữ hôn! Hổng có cây sào tre cắm tiêu của con đứng mũi chịu sào, thì bao nhiêu cừ tràm với bao đất cũng trôi tuột theo con nước xiết rồi. Cả xóm Lung Mây này mang ơn con nhiều lắm đó!
Mặt trời từ từ nhô lên khỏi rặng tràm đằng xa, vén tan màn sương mù xám xịt còn vương trên ngọn cây. Nắng sớm rọi xuống, nhuộm vàng cả khúc rạch Cây Gáo. Mực nước son đỏ ngầu trên rạch bắt đầu khựng lại rồi từ từ hạ xuống từng tấc, để lại vệt phù sa màu mỡ bám dài trên chân bờ bao vừa được cứu nguy. Cơn gió chướng hung hãn suốt đêm qua giờ đã dịu hẳn, chỉ còn làn gió mát rượi thổi qua cánh đồng Lung Mây rộng một trăm năm mươi hécta. Từng vạt lúa vụ ba chín đỏ đuôi dập dờn như sóng lượn dưới ánh mai, tỏa ngát mùi rơm rạ ngọt lành.
Dì Út Lành bước sang mé xuồng, cười xởi lởi đỡ lấy cánh tay Bách: — Thôi, về ghe cho thằng Bách nhỏ nghỉ ngơi. Cả đêm ngâm nước lạnh ngắt, coi chừng trúng gió bây giờ! Chú Tám dưới ghe đang ngóng dữ lắm đó.
Bách bước theo dì Út qua mạn xuồng tam bản. Chiếc ghe cũ kỹ của hai cha con vẫn neo chặt bên rặng tràm dưới tấm bạt dứa chắn gió. Bước vào khoang ghe, Bách thấy ba đã ngồi dậy tự bao giờ. Dù gương mặt ba còn xanh xao sau cơn sốt rét rừng, nhưng ánh mắt đã dịu lại và tươi tỉnh hơn nhiều, không còn vẻ mê man co giật như đêm giông bão. Trên chiếc vỉ sạp dừa, tô cháo cá lóc nấu hành hoa do dì Út mang sang đang bốc khói nghi ngút. Chú Tám vừa húp cạn nửa tô, mồ hôi rịn ra ướt đẫm trán.
Thấy con trai bước vào, chú Tám vội buông chiếc muỗng nhôm, run rẩy vươn đôi tay nứt nẻ nắm lấy bờ vai Bách: — Bách… Con có bị lạnh không? Chân cẳng ra sao rồi con? Đêm qua nghe tiếng còi báo động ngoài rạch, ba nằm đây mà ruột gan nóng như lửa đốt…
— Con hổng sao hết ba ơi! — Bách mỉm cười, chìa hai bàn tay đã khô ráo ra cho ba xem. — Chân con nhờ thuốc của dì Út nên hết buốt rồi, tay cũng kéo da non. Bờ bao giữ được rồi ba, lúa của bà con hổng có bị ngập tấc nào hết trơn!
Mấy người xóm giềng đi hộ đê ngang qua, đứng trên mé bờ rạch nhìn xuống khoang ghe, tấm tắc nói vọng vào: — Chú Tám có thằng con trai quý như vàng ròng nghen! Đêm qua nó gan dạ lặn xuống cắm sào tiêu, nhờ vậy tụi tui mới ém được bao cát bịt họng mạch ngầm đó! — Phải đó chú Tám! Thằng nhỏ chín tuổi mà giỏi giang, tháo vát hết phần thiên hạ!
Nghe chòm xóm chung quanh hết lời khen ngợi con mình, khóe mắt chú Tám bỗng đỏ hoe. Người cha ba mươi tám tuổi cả đời lầm lũi trên những cánh đồng ngập nước, từng phải cúi đầu nhận lỗi, từng cắn răng chịu bao tủi nhục của kiếp tha hương chạy đồng, nay lần đầu tiên rơi nước mắt vì tự hào. Chú Tám kéo Bách vào lòng, bàn tay thô ráp xoa nhẹ lên gáy con, nghẹn ngào: — Ba cảm ơn con… Con làm ba mát lòng mát dạ dữ lắm, Bách à…
Bách nép đầu vào ngực ba, nghe hơi ấm quen thuộc lan tỏa khắp cơ thể. Bao nhiêu mệt mỏi, căng thẳng và sợ hãi của đêm dài vật lộn với sóng dữ bỗng chốc tan biến sạch trơn, chỉ còn lại sự bình yên vô bờ bến.Bỗng ngoài mạn ghe vang lên tiếng dầm khua nước rón rén cùng tiếng gọi giòn giã: — Bách ơi! Có nhà hổng đó Bách?
Bách nhoài người ra cửa khoang. Bé Mận đang thoăn thoắt chèo chiếc xuồng ba lá nhỏ tấp sát vào be tam bản. Con nhỏ mặc chiếc áo bà ba màu hoa cúc vàng rực, hai bím tóc đuôi gà lúc lắc theo từng nhịp chèo, trên gương mặt tròn trĩnh nổi rõ lúm đồng tiền tươi tắn. Mận vừa buộc dây xuồng vào cọc tràm vừa reo to: — Tui đem tin vui về cho Bách nè! Sáng sớm ba Tư chèo xuồng qua ủy ban xã về nói lại, nhờ bờ bao ấp mình đứng vững ngăn được con nước son, nên trường tiểu học ngoài mé kênh Tân Thành Lò Gạch hổng có bị ngập tấc nào hết trơn! Nước lũ chỉ mấp mé bờ cỏ là rút liền!
Mắt Bách sáng bừng lên như hai đốm lửa nhỏ, cậu hồi hộp hỏi dồn: — Thiệt hổng Mận? Trường hổng bị ngập nước thiệt hả?
— Thiệt trăm phần trăm luôn! — Mận cười toe toét, đôi mắt lấp lánh niềm vui. — Sáng nay mấy thầy cô trên huyện xuống đông đủ lắm, đã quét dọn sạch bóng bùn đất ngoài sân trường rồi. Cột cờ cũng được lau chùi tinh tươm để chuẩn bị treo cờ đón ngày khai trường. Ba Tư nói năm nay tụi mình được đi khai giảng đúng hẹn, hổng phải hoãn bữa nào hết! Bách giỏi ghê nơi, nhờ Bách giữ bờ bao mà trường của tụi mình hổng có bị lụt đó!
Nghe Mận nhắc đến ngày khai trường và ngôi trường làng nguyên vẹn sau cơn lũ, lòng Bách rộn rã như có đàn chim sáo líu lo trong lồng ngực. Cậu thầm nghĩ đến cuốn sách tiếng Việt lớp Một giấu dưới sạp dừa, nghĩ đến những chữ cái O, Ô, Ơ và chữ “BA” mà Mận đã dạy viết trên nền đất. Ước mơ được cắp sách bước vào lớp học chữ đầu đời bỗng trở nên gần gũi, sáng rõ hơn bao giờ hết.
Nắng đã lên cao bằng con sào tre. Gió đồng hong khô những giọt nước còn đọng trên mui bạt. Bách đứng dậy, xỏ chân bước ra sàn mũi ghe. Gót chân từng bị dằm tre đâm nay đã liền miệng, bước đi vững chãi không còn chút tập tễnh. Cậu với tay lấy cây sào tre buộc túm giẻ đỏ — được mấy anh thanh niên hộ đê nhổ lên đem sang trả lại dựng bên mạn ghe từ sớm, khẽ nhịp ba tiếng quen thuộc lên be ván: “Cắc… cắc… cắc…”
Nghe tiếng gõ sào lanh lảnh, con vịt Khoang Cổ đang rỉa lông bên bãi cỏ lập tức vươn dài chiếc cổ ngấn vệt lông trắng, cất tiếng kêu “quạc… quạc…” đầy dõng dạc. Lập tức, đàn vịt hai ngàn con nghe lệnh đầu đàn liền rẽ sóng bơi túa ra lòng rạch Cây Gáo. Những chiếc lông trắng, lông xám mượt mà nổi bồng bềnh trên mặt nước phù sa đỏ quạnh. Chúng thỏa thích vẫy cánh, ngụp lặn rỉa mồi, bơi lội tung tăng trong dòng nước êm đềm đã hoàn toàn vắng bóng những luồng xoáy dữ.
Bách đứng ở mũi ghe, thong thả vung ngọn sào tre có túm giẻ đỏ phần phật bay trong gió mai. Dọc hai bên bờ rạch, những người nông dân đi đắp đê trở về, vai vác cuốc xẻng, ai nấy đều ngoái lại tươi cười vẫy tay chào hai cha con: — Bách ơi, lùa bầy vịt ăn mót thả giàn nghen con! Lát nữa máy cắt vô đồng rụng nhiều lúa dữ lắm đó! — Chú Tám ráng ăn cháo cho mau lại sức nghen chú Tám!
Những tiếng gọi rộn rã, chan chứa ân tình khiến khúc rạch hẻo lánh bỗng ấm áp như một mái nhà lớn. Hai cha con người chăn vịt không còn là kẻ tha hương lẻ loi giữa đồng không mông quạnh nữa, mà đã thực sự thuộc về mảnh đất nghĩa tình này.
Đang thong thả lùa bầy vịt bơi xuôi con nước thì trên đỉnh bờ bao rực rỡ nắng vàng, bóng bác Tư Đước lại xuất hiện. Người trưởng ấp đứng sừng sững bên rặng tràm, tay phe phẩy chiếc nón lá, gương mặt đỏ au rạng ngời niềm hân hoan. Bác Tư khum bàn tay to bè quanh miệng, gọi với xuống chiếc tam bản bằng chất giọng sang sảng như chuông đồng: — Chú Tám ơi! Thằng Bách ơi! Chiều nay mấy cỗ máy gặt đập liên hợp vô đồng gặt dứt điểm một trăm năm mươi hécta lúa vụ ba nghen! Tối mai cả ấp Lung Mây mở tiệc lớn ăn mừng thắng lợi mùa lúa chạy lũ ở sân nhà văn hóa, hai cha con chú Tám bắt buộc phải có mặt ngồi ở chiếu trên đó nghen! Hổng có cha con chú là bà con dứt khoát hổng chịu khai tiệc đâu đó!
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
