Chương 8: Đêm Lạnh ải Chi Lăng
Dứt lời hiệu triệu đanh thép của cụ Phù Khắc Chương, nhuệ khí của đoàn tuần khám bừng bừng trỗi dậy. Khâm sai Lê Văn Uyển vung tay ra lệnh, toán hiệu lực quân lập tức tuốt đoản đao và rìu chiến dọn đường. Từng nhát rìu chém chan chát dọn sạch cành dẻ gai chắn lối. Nơi khe vực sâu có cầu mây bị chặt đứt, lính cấm vệ khéo léo hạ ba thân gỗ nghiến thẳng tắp vắt ngang hai bờ vách, dùng dây chão neo chặt vào mố đá làm cầu tạm. Cụ Chương ngồi trên cáng tre, cảm nhận bước chân vững chãi của tráng đinh khiêng cụ cùng chiếc hòm gỗ bọc đồng vượt qua khoảng không thăm thẳm của dòng thác gầm réo bên dưới.
Vượt qua hiểm địa dốc Bắc Lãng, đoàn tuần khám tiếp tục dấn bước men theo đường mòn khúc khuỷu. Khi ráng chiều sẫm buông xuống thung lũng mờ mịt sương lam, đoàn người đặt chân đến trạm dịch Chi Lăng.
Nơi đây là cổ họng yếu lộ của dải biên thùy phía Bắc, bốn bề vách đá dựng đứng sừng sững như trường thành. Từng tấc đất quanh trạm dịch đều thấm đượm ký ức hào hùng của trận quyết chiến hơn sáu mươi năm trước, nơi nghĩa quân Lam Sơn chém đầu Liễu Thăng, bẻ gãy nhuệ khí giặc phương Bắc. Trạm dịch dựng bằng gỗ nghiến kiên cố, bao bọc bởi lũy đá hộc, vọng gác cao vút soi bóng xuống lòng khe cạn, toát lên vẻ trang nghiêm của chốn quân sự tiền tiêu.
Màn đêm buông xuống mau lẹ, kéo theo chướng khí buốt giá của rừng thiêng biên ải. Gió bấc rít qua khe đá tai mèo như tiếng gươm đao khua động giữa chốn hoang vu. Trong gian chái phía tây của trạm dịch, cụ Phù Khắc Chương ngồi dựa lưng vào vách gỗ, cảm nhận rõ sự rệu rã của thân xác chín mươi tuổi sau chặng đường dài xóc nảy. Khớp xương đầu gối, thắt lưng và cổ chân nhức buốt dữ dội như ngàn mũi kim băng châm vào da thịt. Hơi lạnh biên thùy ngấm qua lớp áo chàm khiến ngực cụ thắt lại, nhịp thở nặng nhọc. Cụ khẽ rùng mình, hai bàn tay nổi vết đồi mồi run lên bần bật, dẫu sống lưng vẫn gắng giữ thẳng như thói quen cả đời.
Nhận ra nét nhọc nhằn của thầy, Trần Cảnh Nghiệp vội vã nhóm củi nghiến vào chiếc lò đồng giữa phòng, ngọn lửa ấm bùng lên xua bớt sương lạnh lùa qua khe liếp. Chàng trải tấm nệm bông dày lên phản gỗ, nhẹ nhàng đỡ cụ ngả lưng rồi mở bọc vải lấy ra bộ kim bạc.
“Thầy ráng nén đau một khắc, để con châm cứu thông kinh hoạt lạc,” Cảnh Nghiệp khẽ thưa, giọng chan chứa ân tình.
Bằng ngón tay chuẩn xác, chàng châm kim vào các huyệt Khí Hải, Túc Tam Lý và Quan Nguyên. Hơi ấm từ mũi châm chầm chậm lan tỏa, xua tan cơn buốt giá nơi khớp xương của cụ già. Cùng lúc đó, ấm đồng bắc trên bếp than sôi sùng sục, tỏa hương cay nồng của thang thuốc bắc dưỡng khí sắc từ quế chi, đẳng sâm và phục linh.
Đúng lúc Cảnh Nghiệp dâng bát thuốc ấm lên thầy, cánh cửa gỗ bật mở. Khâm sai Lê Văn Uyển bước vào, cởi bỏ áo choàng gió, giọng ân cần thăm hỏi “Phù lão tiên sinh, thân thể người ra sao rồi? Đường rừng gập ghềnh, lại gặp lũ gian đồ phá cầu làm trễ nải, bản bộ thật áy náy khôn nguôi.”
Khâm sai trao cho Cảnh Nghiệp tấm áo cừu lót lông thú mang từ kinh thành “Biên ải đêm lạnh thấu xương, tiên sinh tuổi cao sức yếu, xin nhận tấm áo cừu này để giữ ấm chân khí.”
Cụ Chương uống cạn bát thuốc ấm, nhận tấm áo cừu rồi chắp tay tạ lễ “Đa tạ Khâm sai đại nhân đã hạ cố quan tâm. Lão phu tuy xương khớp mỏi nhừ, nhưng khí phách vì bờ cõi non sông thì chưa từng suy suyển dẫu một phân. Cán gậy trắc lượng này tuyệt đối không gục ngã trước gió lạnh Chi Lăng.”
Lê Văn Uyển gật đầu cảm phục, căn dặn thị vệ canh phòng cẩn mật quanh trạm dịch rồi mới yên tâm lui ra ngoài đốc thúc việc tuần tra.
Sau khi ngấm thuốc ấm và được châm cứu giải hàn, sắc mặt cụ Chương dần hồng hào trở lại, hơi thở điều hòa. Cụ chống tay ngồi dậy, với lấy cán gậy trắc lượng lim già đặt bên gối, bước chậm rãi đến bên khung cửa sổ mở hé nhìn ra ngoài trời đêm.
Dưới ánh trăng thượng tuần vằng vặc dát bạc thung lũng, rặng núi Mã Yên sừng sững hiện ra giữa nền trời đen thẫm tựa chiếc yên ngựa khổng lồ của bậc dũng tướng thuở trước. Gió ngàn thổi lồng lộng qua khe núi, lay động rặng cây cổ thụ rì rào như tiếng quân reo ngựa hí vọng về từ quá khứ oai hùng.
Cụ Chương nhìn vách đá cheo leo, giọng trầm vang như tiếng chuông đồng giữa đêm khuya:“Cảnh Nghiệp, con nhìn rặng Mã Yên kia xem. Hơn sáu mươi năm trước, tại chính thung lũng này, máu của tiên liệt nghĩa quân Lam Sơn đã đổ xuống hòa cùng máu giặc để giữ lấy từng tấc đất thiêng liêng. Xương cốt của tiền nhân vùi trong lòng đất lạnh, dựng nên tấm bình phong che chắn cho giang sơn Đại Việt đời đời thái bình.”
Cảnh Nghiệp bước đến đứng bên cạnh thầy, hai tay siết chặt nơi gờ cửa sổ, ánh mắt hướng về rặng núi uy nghiêm “Thưa thầy, người xưa đổ bao xương máu mới giữ được cõi bờ, vậy mà nay lũ quan tham như Đặng Hoài Viễn lại đang tâm dời mốc cắt xén bán cho ngoại bang. Nghĩ đến điều đó, lòng con sôi sục căm hờn.”
Cụ Chương mỉm cười, ánh mắt quắc lên nhìn người học trò. Cụ nâng cán gậy lim già, ngón tay miết nhẹ dọc theo những vạch khắc li, phân sáng bóng “Căm hờn là lẽ thường của kẻ có lương tri, nhưng người làm nghề trắc lượng muốn giữ đất thì tâm phải tĩnh như nước hồ thu, mắt phải sáng như nhật quy giữa trưa. Trò hãy nhớ: kẻ tầm thường chỉ biết đo đất bằng thước gậy vô tri, tính cự ly bằng dặm bằng tầm. Một trắc lượng sư chân chính phải biết đo cương thổ bằng chính lòng dạ kiên trinh và ý chí bất khuất của tiền nhân.”
Cụ dằn giọng, lời lẽ trang nghiêm, đanh thép “Thước gậy dẫu chuẩn, bóng nắng dẫu quang minh cũng chỉ là vật theo trời đất. Nếu người cầm thước mà lòng tham mờ mắt vì bạc vàng, run sợ trước gươm giáo, thì tay run mắt lệch, đường vạch ra ắt xiêu vẹo, khiến cõi bờ bị xâm lấn. Ngược lại, nếu trong lòng con khắc sâu tấc đất là tấc vàng máu thịt tổ tông, thì dù đối mặt gươm giáo hay quan tham bức hại, vạch đo của con vẫn thẳng tắp như tùng bách ngàn năm. Lòng dạ kiên trinh, đó mới chính là cái thước chuẩn mực nhất để định rõ cương thổ!”
Cảnh Nghiệp xúc động nghẹn ngào, sụp gối vái lạy người thầy chín mươi tuổi “Lời thầy dạy như sấm truyền giữa đêm, con xin trọn đời khắc cốt ghi tâm!”
Không gian đêm khuya nơi trạm dịch Chi Lăng chìm vào tĩnh mịch đặc quánh, chỉ còn tiếng gió rít qua vách đá và tiếng than nổ lách tách trong lò đồng.
Bỗng nhiên, từ vách núi đen thẫm phía sau trạm dịch, tiếng cú rúc kỳ dị cất lên ba hồi liên tiếp “Oúc... oúc... oúc!”
Âm thanh the thé ma quái rạch nát màn sương buốt giá, dội vào vách đá Mã Yên tạo nên chuỗi âm vang rợn người.
Chưa dứt hồi cú rúc thứ ba, từ vọng gác bằng gỗ cao vút bên lũy đá ngoài trạm dịch, tiếng gõ mõ báo động bằng gỗ mít bỗng dồn dập vang lên Cốc! Cốc! Cốc! Cốc! Cốc!
Tiếng mõ giục giã liên hồi xé toạc màn đêm, hòa cùng tiếng hô hoán kinh động của lính canh cấm vệ và tiếng binh khí tuốt khỏi vỏ loảng xoảng vang dội khắp thung lũng lạnh ngắt.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
