Chương 8: Dò Dấu Bến Vạn Phước

Cụ Thôi Thuần Trực buông lời dứt khoát, ánh mắt già nua vẫn hướng về dòng sông Lạc Thủy mịt mùng ngoài chấn song. Thôi Hạc vội bước tới khép bớt cánh liếp tre, rồi quay lại đỡ tay ông nội ngồi xuống ghế: – Ông nội, bến Vạn Phước là nơi thuyền bè đổ về tấp nập nhất. Trần Bách Hựu bòn rút thóc gạo ngay tại cầu cảng ắt có tay chân canh phòng cẩn mật. Để cháu đi thám thính một chuyến!

Chu Hoài An gượng nhổm dậy nơi giường bệnh, ánh mắt bừng lên vẻ lo âu khôn xiết: – Thôi đệ chớ nên khinh suất. Bến sông ban đêm do người của Tiền Thế Đức và sai nha Hộ bộ ngầm kiểm soát. Chúng bố trí đám côn đồ canh giữ bến bãi, kẻ lạ dòm ngó rất dễ mất mạng.

Cụ Thôi đặt bàn tay khô gầy lên vai cháu nội, trầm giọng căn dặn: – Hạc nhi, con lanh lợi, tính toán nhanh, nhưng lần này đi tuyệt đối không manh động. Kẻ làm việc ám muội thường chọn lúc đêm sâu canh vắng. Con hãy thấy tận mắt, nghe tận tai cách chúng bòn rút và dụng cụ đong đo. Hãy cải trang cho khéo, chớ để lộ tông tích Đô sát viện.

Thôi Hạc kính cẩn cúi đầu: – Cháu ghi nhớ lời ông dặn!

Cậu cất chiếc cân đồng bọc vải dạ điều vào chiếc tráp gỗ, kèm theo cuốn sổ tay và thỏi mực khô, ghì chặt quai tráp chéo qua vai. Bước sang gian chái phụ, Thôi Hạc tròng vào người chiếc áo tơi rách rưới bốc mùi bùn tanh của cá ươn, xắn cao ống quần thô, rồi quệt muội than lem nhem lên đôi gò má. Chỉ chớp mắt, chàng thiếu niên nhanh nhẹn đã hóa thành một gã phụ việc buôn cá lam lũ, thoăn thoắt bước ra ngoài rồi hòa mình vào màn đêm tĩnh mịch.

Con đường đất dẫn ra bến sông chạy men theo chân tường thành phía Nam. Nạn hạn hán khốc liệt suốt sáu tháng trời đã vắt kiệt sinh khí của chốn kinh kỳ. Hai bên ngõ hẹp, những mái lều tranh xơ xác ngả nghiêng trong gió bụi. Từng tốp nạn dân gầy trơ xương nằm la liệt trên manh chiếu rách, thoi thóp ngóng chờ chút cháo chẩn tế của triều đình trong tuyệt vọng.

Đi ngang qua một con hẻm tối gần chợ Cửa Nam, bước chân Thôi Hạc bỗng khựng lại trước tiếng khóc xé ruột của một người đàn bà gầy guộc: – Cắn rơm cắn cỏ lạy ông... Xin ông rủ lòng thương cho bớt vài thăng... Cháu nó mới lên sáu, không có hớp cháo thì chết mất...

Dưới ánh đuốc quán đổi bạc, một gã béo tốt vung roi quất mạnh xuống đất nghe chát chúa: – Tám trăm văn một đấu gạo! Đã không có tiền chuộc văn tự nợ thì câm mồm lại! Đem con bé gán nợ còn chưa đủ tiền lãi ba tháng qua, ở đó mà van với lạy! Mau dắt nó đi!

Tiếng gào khóc thảm thiết của đứa trẻ thơ bị giằng khỏi tay mẹ chìm lỉm vào màn đêm đặc quánh. Thôi Hạc siết chặt quai tráp gỗ, lồng ngực thắt lại vì uất nghẹn. Tám trăm văn tiền một đấu thóc! Lũ gian thương đã đẩy giá lương thực lên gấp tám lần ngày thường, biến từng hạt ngọc của trời thành lưỡi dao cứa đứt ruột gan dân nghèo, ép người ta phải dứt ruột bán con trừ nợ. Trong khi đó, hàng vạn thạch thóc dự trữ cứu mạng muôn dân lại bị bọn sâu mọt cấu kết bòn rút không thương tiếc. Ngọn lửa căm phẫn đối với lũ quan tham và phường thương lái táng tận lương tâm bốc lên ngùn ngụt trong tâm can cậu thiếu niên mười tám tuổi.

Gạt đi giọt nước mắt xót xa, Thôi Hạc cắm cúi rảo bước thật nhanh về phía bờ sông.

Vượt qua rặng phi lao chắn gió, bến thuyền Vạn Phước hiện ra trước mắt. Trái ngược hoàn toàn với cảnh hoang tàn chết chóc nơi phố thị, bến cảng lúc nửa đêm lại rực rỡ ánh đuốc sáng như ban ngày. Tiếng dây thừng cọ vào cọc neo cót két, tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền hòa cùng tiếng la hét, chửi thề om sòm của đám cửu vạn.

Thôi Hạc cúi gằm mặt, nhặt chiếc giỏ tre đựng cá vụn ven bờ vác lên vai, bước đi khập khiễng trà trộn vào dòng người bốc vác đang đi lại nườm nượp trên bờ kè đá. Nhờ vẻ ngoài lem luốc và mùi cá tanh nồng nặc, đám lính tuần tra quanh bến chẳng buồn dòm ngó đến cậu.

Nấp sau một đống thùng gỗ chất cao sát mép nước, Thôi Hạc kín đáo phóng tầm mắt quan sát. Dưới bến, năm chiếc thuyền tải cỡ lớn cắm cờ lệnh màu vàng của Ty Đốc vận triều đình đang thả neo nối đuôi nhau. Những bao tải thóc căng tròn được đám phu phen hò nhau vác từ khoang thuyền lên bờ kè. Thế nhưng, điều khiến Thôi Hạc giật mình chính là hướng di chuyển của dòng người bốc dỡ.Đúng như những ghi chép trước đây trong cuốn nhật ký của Chu Hoài An, số thóc này hoàn toàn không được chất lên những chiếc xe bò mang phù hiệu Hộ bộ theo đúng lệ thường để nhập kho triều đình. Ngay sát mạn ngoài của thuyền tải triều đình, ba chiếc thuyền buôn đáy bằng sơn then đen nhánh đang áp sát sườn. Trên mui thuyền cắm lá cờ vải thêu một chữ “Tiền” đỏ chót viền vàng – phù hiệu quen thuộc của hào thương Tiền Thế Đức.

Đứng trên cầu tàu bằng gỗ nghiến, một gã gia nhân mặc áo lụa xanh bóng nhẫy, tay cầm sổ bộ, miệng liên tục hối thúc: – Nhanh tay lên lũ vô dụng! Cứ mười bao thóc công thì chuyển ba bao sang thuyền đáy bằng của Tiền phủ! Đong đo cho cẩn thận, để rơi vãi một hạt là trừ sạch tiền công đêm nay!

Từng bao thóc của triều đình cứ thế công nhiên được tuồn sang khoang thuyền của gian thương ngay trước mắt bàn dân thiên hạ. Thôi Hạc cắn chặt môi, mắt dõi theo luồng phu khuân vác đang rẽ vào một lán trại lợp lá gồi dựng tạm sát mép sông. Nơi đó treo bốn chiếc đèn lồng đỏ, chính là lán trại đong thóc trung chuyển.

Lợi dụng lúc đám phu phen đang chen chúc chuyển hàng, Thôi Hạc khéo léo trườn người qua con rãnh thoát nước, luồn ra phía sau lán trại. Vách lán đóng bằng những thanh ván gỗ thông mỏng manh, nứt nẻ nhiều khe hở. Cậu nín thở, ghì sát thân mình vào lớp vách gỗ ẩm mục, ghé mắt nhìn qua kẽ nứt.

Bên trong lán, hai tên thợ đong lực lưỡng đang đứng cạnh những miệng bao thóc mở toang. Ở giữa sàn đặt một chiếc bàn gỗ lớn, trên mặt bàn bày ba chiếc hộc đong ngũ cốc bằng gỗ bọc đồng thau.

Một tên thợ đong nhấc chiếc hộc lên, cầm chiếc búa gỗ nhỏ gõ ba tiếng vào đáy hộc: “Bịch... bịch... bịch...”

Âm thanh phát ra trầm đục kỳ lạ, nặng trịch như tiếng gõ vào tảng đá, hoàn toàn không có độ vang ngân trong trẻo của đồng thau nguyên khối như chiếc hộc chuẩn mà ông nội cậu từng gõ thử ở Đô sát viện.

Tên thợ đong kia cười khẩy, cất giọng the thé: – Miếng chì đệm dưới đáy hộc này chôn chặt thật, sơn then quét khéo đến mức quan viên Hộ bộ xuống ngó qua cũng chẳng nhận ra. Mỗi thạch thóc đổ vào đây, đong gạt phẳng miệng là ngậm bớt toi một đấu ba thăng. Đong xong mười chuyến thuyền, số thóc dôi ra đủ cho lão gia mua đứt nửa dãy phố Tây!

Tên cầm búa gỗ nhổ toẹt bãi trầu xuống đất: – Trần chủ sự đã ăn chia sòng phẳng với Tiền lão gia rồi, việc quái gì phải lo! Cứ gạt cho nhanh để trước giờ Dần còn kéo thuyền buôn rời bến...

Từng lời nói trơ trẽn lọt vào tai khiến Thôi Hạc run lên vì phẫn nộ. Đúng là hộc đáy kép lót chì! Con số thâm hụt mười lăm phần trong mỗi trăm phần trong cuốn nhật ký của Chu Hoài An rốt cuộc đã lộ rõ manh mối bằng xương bằng thịt.

Cậu thiếu niên vội vàng luồn tay vào bọc áo, toan rút cuốn sổ tay con ra để ghi chép lại số hiệu thuyền buôn. Nhưng vừa cựa mình, chiếc tráp gỗ đeo bên hông khẽ va vào cọc rào phát ra tiếng “cộc” nhỏ.

Đúng lúc ấy, phía ngoài rặng phi lao ngay sau lưng tấm vách mỏng manh bỗng vang lên hàng loạt tiếng bước chân nện gót dồn dập, kèm theo tiếng quát tháo lạnh buốt xương sống: – Đứa nào thập thò sau vách lán? Bắt lấy nó!

Toán bảo tiêu Tiền gia lăm lăm côn sắt bất ngờ ập đến, tiếng gươm đao tuốt khỏi vỏ sắc lạnh vang lên ngay sát gáy Thôi Hạc. Cậu nín thở, tim đập thình thịch, hai tay ghì chặt chiếc tráp gỗ vào ngực, lưng dán chặt vào tấm vách gỗ mỏng manh trong gang tấc hiểm nguy.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.