Chương 1: Mùi Khét đáy Sậy

Mũi sào tre cắm phập xuống lớp bùn nhão nơi vạt sậy Trầm Vân Trạch thì khựng lại, không truyền về cảm giác mềm xốp quen thuộc mà trơn tuột như đâm phải mỡ đông.

Cố Chiêu Nghiễm đứng trên mép mảng nứa, đôi mày bạc khẽ cau lại. Trời vừa hưng hửng rạng, sương sớm mờ mịt chưa kịp tan trên mặt nước, nhưng trong không khí lạnh buốt của buổi sớm không có mùi ngai ngái thanh lành của cỏ mục và hoa sậy trổ bông. Thay vào đó là một luồng khí nồng hắc, khét lẹt như mùi than đá bị dội nước sôi, xộc thẳng vào cánh mũi khiến cuống họng cụ khô khốc.

Lão tạp dịch một trăm ba mươi tám tuổi hơi khom lưng, gạt chùm râu bạc dài chạm ngực sang một bên rồi chống sào lướt tới chỗ đặt mấy chiếc đó cá đêm qua.

Trước mắt cụ, cảnh tượng phơi bày khiến bàn tay chai sần ghì chặt lấy thân sào tre. Cả một vạt sậy già rạp mình bên mép nước, lá úa vàng rũ rượi như bị lửa trần quét qua. Dưới chân khóm sậy, từng mảng tôm tép dạt vào bờ bùn, bụng ngửa trắng xóa. Mấy con cá diếc, cá trê đồng to bằng bàn tay người lớn nổi lềnh bềnh trên mặt nước, mang cá há hốc dính đầy một lớp váng màu xám chì bết rệt.

Cụ Cố với chiếc gáo dừa gài bên mạn mảng, vục một vốc nước đầm lên. Làn nước không còn trong xanh ánh sắc trời như mọi bận mà đùng đục ánh kim, gợn từng dải váng óng ánh nhiều màu như mỡ trăn. Đưa mép gáo lên mũi ngửi, mùi hôi nồng nặc vị diêm tiêu và đan sa xộc tới làm cụ nhăn mặt.

Cụ cúi người, thọc cả bàn tay thô ráp nứt nẻ xuống lớp bùn ngập dưới mặt nước một thước. Ngón tay bấu sâu vào tầng đất đáy, vừa chạm tới, một cảm giác nóng râm ran khác thường liền truyền qua da thịt. Bùn đáy đầm vốn quanh năm lạnh buốt như ngâm trong hầm băng, nay lại ấm sực, nhờn quánh như dầu mỡ bám chặt vào kẽ móng tay, rửa mãi trong gáo nước cũng không chịu tan.

Cố Chiêu Nghiễm lẩm bẩm trong miệng, ánh mắt thâm trầm lóe lên tia nhìn kinh hãi — Không phải đất trở chứng, cũng chẳng phải khí độc mùa sương giáng… Đây rành rành là hoả sát của lò luyện đan!

Chút linh lực còm cõi của Luyện Khí tầng một kẹt lại hơn một thế kỷ trong kinh mạch cụ khẽ xao động khi chạm phải luồng trọc khí hung hãn ẩn tàng dưới bùn. Đó là thứ hỏa độc kim thạch chỉ có ở những lò luyện linh đan thượng phẩm trên đỉnh núi, nơi các bậc tiên sư quanh năm đốt lửa nấu chì luyện ngọc.

Đang lúc cụ trầm ngâm thì từ phía con lạch dẫn ra bờ ngoài vọng lại tiếng mái dầm bì bõm gấp gáp. Hai chiếc thuyền nan chèo thốc tới, rẽ đám lau sậy tiến vào. Trên thuyền là mấy người đàn ông xóm vạn chài Bến Lau, mặt mày ai nấy hớt hải, tái mét không còn hột máu.

Người chèo đầu là bác thuyền chài họ Trần, vừa nhìn thấy bóng áo vải gai thô quen thuộc của cụ Cố liền buông chèo, giọng thất thanh kêu lớn — Cụ Cố ơi! Cụ Cố mau về bến xem giúp chúng con với!

Cố Chiêu Nghiễm thu sào, đứng thẳng người đón lấy mũi thuyền nan:— Có chuyện gì mà các chú cuống cuồng lên thế? Tôm cá chết rụi ngoài này các chú đã hay chưa?

— Dạ biết, biết hết rồi cụ ơi! Nhưng nguy khốn hơn nhiều! — Bác Trần hổn hển nắm lấy mạn mảng của cụ — Sáng sớm nay, con bé Mận với thằng Cò nhà con vừa lội xuống bến rút rớ cá, chưa đầy nửa tuần hương đã chạy tót lên bờ khóc thét. Hai bàn chân chúng nó đỏ tấy lên như phải bỏng, da thịt phồng rộp, lở loét từng mảng rớm cả máu tươi. Mấy đứa nhỏ xóm dưới xuống gánh nước rửa rau muống cũng bị ngứa rát cào cấu đến bật máu. Dân làng đang nháo nhào cả lên, chẳng hiểu đầm lầy trúng phải tà thuật phương nào!

Cụ Cố nghe qua, ánh mắt trĩu nặng nhìn về phía xóm chài xa xa, nơi khói bếp buổi sớm đang quyện cùng làn sương đục ngầu một cách bất an. Cụ dằn giọng dặn dò — Chú Trần nghe ta dặn cho kỹ. Chèo thuyền về ngay, bảo tuần đinh xóm Bến Lau gõ mõ báo động khắp ba nghìn nóc nhà: Tuyệt đối cấm tiệt người già con trẻ thò chân xuống nước đầm. Mọi chum vại trữ nước ăn uống từ rạng sáng đến giờ phải đổ sạch, chỉ dùng nước mưa cũ trong bể cạn hoặc chịu khó đi năm dặm sang suối đá phía đông gánh nước. Ai lỡ dính nước độc thì lập tức lấy rễ cỏ tranh giã nát với củ súng nấu nước sôi để nguội mà rửa, không được gãi trầy da!

— Dạ, dạ, con nhớ rồi! Nhưng còn tôm cá, còn sinh kế của cả vạn phàm nhân hạ du sông Cổ Lạc thì tính sao đây cụ? Cả xóm trông vào con nước này…

— Cứ giữ lấy mạng trước đã! Chuyện mạch nước, để lão đi xem xét ngọn nguồn. Đi mau!

Đuổi mấy chiếc thuyền nan quay đầu về bến xong, Cố Chiêu Nghiễm không chần chừ thêm một khắc. Cụ cởi bỏ chiếc áo cộc vá vai, để lộ thân hình gầy guộc nhưng gân guốc dẻo dai như thân cây dâu cổ thụ. Đôi chân trần giẫm thẳng xuống làn nước xám quánh, từng đợt nóng rát cắn nhẹ vào da thịt, nhưng nhờ kinh mạch từng rèn luyện qua thuật lắng nghe hơi thở của đất, cụ cắn răng nén lại sự khó chịu.

Cụ chống sào tre, đẩy chiếc mảng men theo vụng nước sâu, lội ngược dòng sình lầy hướng về phía chân rặng linh sơn Huyền Khinh.

Càng đi sâu vào dải trũng giáp vách đá, khung cảnh càng thêm thê lương. Những bụi sen dại vốn xanh tốt mơn mởn nay rữa nát thành từng đống bầy nhầy đen sì dập dềnh trôi. Đám bèo tấm chết khô quăn queo, dạt thành từng tảng dày cộm bốc lên mùi tanh tưởi pha lẫn mùi khét của kim loại nung đỏ. Lòng đầm Trầm Vân Trạch như một tấm thân thể tráng kiện đang bị một bàn tay vô hình rưới nước độc ăn mòn từng thớ thịt.

Đến khúc quanh hẹp nhất, nơi vách đá Tiên Môn dựng đứng sừng sững như bức tường thành ngăn cách cõi phàm và cõi tiên, bước chân Cố Chiêu Nghiễm bỗng chững lại.

Mặt nước nơi đây sôi sùng sục. Từng chùm bọt màu vàng nghệ đặc sánh, to như chiếc bát ăn cơm, liên tục trồi lên từ đáy bùn rồi vỡ toác ra, phả vào không gian những làn khói mỏng màu xám tro mang theo sức nóng hầm hập. Cụ Cố bước từng bước thận trọng, mũi chân dò dẫm trên đá dăm và bùn lầy rát bỏng, tiến sát lại chân vách đá phủ đầy rêu chết.

Ngay tại khe nứt hiểm trở nơi chân non giáp ranh với khu vực Đan Dược Đường ngoại môn, một miệng cống đá đen sì ẩn sau lùm cây bụi héo rũ đang ùng ục tuôn ra từng dòng nước đen ngòm quánh đặc, bốc khói ngùn ngụt cuồn cuộn đổ thẳng vào lòng đầm sâu.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.