Chương 19: Bẻ Gãy Ngọn Triều Thép
Bành Tấn Cương đứng sừng sững trên đỉnh lũy Nhật Lệ, hai bàn tay chai sần chằng chịt nếp nứt như vỏ bàng cổ thụ ghì chặt lên thân gỗ lim mát lạnh của cây thước tầm sáu thước. Gió biển mặn chát thốc từng luồng dữ dội qua mặt cát, cuốn theo bụi khói đạn táp rát mặt, làm phần phật vạt áo chàm bạc màu của người thợ cả sáu mươi ba tuổi. Trước mắt cụ, đất trời bãi cát Động Hải dường như đang chao đảo trong một cơn địa chấn kinh hoàng.
Bầy chiến tượng khổng lồ rầm rộ xông thẳng tới mép cát, mỗi bước chân nện xuống phát ra những tiếng huỳnh huỵch trầm đục khiến lớp đất dưới chân công sự rung bần bật. Cặp ngà bọc lưỡi thép sáng loáng chĩa thẳng về phía trước, chở theo những bành lim lèn chặt cung thủ đang lăm lăm tên độc. Hai bên cánh, hàng ngàn thiết kỵ Đàng Ngoài dàn thế mũi tên kẹp chặt, móng sắt gõ dồn trên sỏi cát tựa thác lũ cuộn trào.
— Cương huynh, đòn quyết tử của quân Trịnh đấy! — Bên cạnh cụ, Lộc Khê hầu Đào Duy Từ cất giọng trầm đanh.
Tà áo lông sam của vị quan Tham mưu quân cơ bay lồng lộng trong gió. Sắc mặt ngài tuy thoáng vẻ xanh xao vì dầm sương dãi gió nhiều đêm liền, nhưng ánh mắt sáng quắc như sao đêm, bàn tay gầy guộc nắm chặt đốc kiếm lệnh.
Cụ Cương không đáp ngay, chỉ nheo đôi mắt tinh tường từng thớ đất con nước nhìn thẳng vào ngọn triều thép đang ầm ầm tràn tới. Tim cụ thắt lại rồi đập từng nhịp đanh gọn. Cụ nhìn những thớt voi to lớn tựa núi lở, lại nhìn xuống chân lũy — nơi từng lớp cọc tre gai ngâm bùn trăm ngày đan cài hình mắt cáo đang cắm sâu vào lòng đất sét gốc, ẩn mình dưới lớp vữa cát mịn ngậm vôi hàu và mật mía de ba lửa.
— Quan Thầy yên tâm, — cụ Cương cất giọng khàn đục mà vững chãi, bàn tay vỗ nhẹ lên gờ chắn tên ráp mịn — lũy này không đắp bằng cát rời. Thịt đất ngậm huyết mật, bầy voi dẫu mang sức nặng vạn cân cũng đừng mong lay chuyển nổi xương tre của muôn dân.
Phía bên kia bãi cát, viên thống suất giặc đứng trên gò cao vung cờ thúc trận. Tiếng tù và bằng sừng trâu rúc lên từng hồi nghẹn đặc, man dại. Đàn voi chiến ngửa vòi rống lên những tiếng gầm vang dội làm rung chuyển vòm trời cửa biển, đồng loạt sải những bước chân hộ pháp lao thẳng vào thân lũy. Thiết kỵ Đàng Ngoài bám sát hai cánh, hò reo dậy đất, quyết dùng sức nặng của bầy chiến tượng để ủi sập bờ lũy non nớt.
Chỉ trong chớp mắt, đàn voi đã lao đến cách chân lũy chưa đầy mười trượng. Nhưng ngay khoảnh khắc mũi ngà bọc thép chực húc vào mặt vách, hiểm địa mà thầy trò cụ Cương dày công bố trí bỗng phát huy uy lực khôn lường. Bãi cát thoạt nhìn bằng phẳng mép chân công sự thực chất là triền đất xốp ngậm đẫm vữa mật mía dẻo quánh hòa cùng bùn nhão, phía dưới ken chặt tầng tầng lớp lớp cọc tre gai cắm sâu vào tầng sét gốc. Khi đàn voi chiến nặng nề giậm chân xuống, lớp cát mặt lập tức sụt lún, nuốt trọn những bàn chân voi to lớn.
Khối vữa mật mía dẻo quánh níu chặt lấy móng chân bầy thú tựa lớp hồ keo khổng lồ. Lũ voi chiến đang đà lao nhanh bỗng khựng lại đột ngột, chân sa lầy không tài nào rút lên được. Thân hình đồ sộ của chúng mất đà chúi nhủi về phía trước, đâm sầm vào nhau hỗn loạn. Những tiếng rống đau đớn và kinh hãi bắt đầu vang lên rền rĩ khi bùn lầy và mật quánh ngậm chặt lấy khớp chân bầy thú.
Cùng lúc đó, hàng ngàn thiết kỵ Đàng Ngoài phía sau theo đà phi nước đại không kịp hãm cương, đâm thẳng vào mép rãnh hào sâu. Dưới lớp cát mỏng ngụy trang, những hàng cọc tre gai ngâm bùn trăm ngày nhọn hoắt như rừng chông chực sẵn. Tiếng ngựa hí kinh hoàng xé rách ráng chiều. Móng sắt trượt trên lớp vữa cát trơn tuột, hàng trăm kỵ mã ngã nhào xuống đáy hào, bị cọc tre gai đâm xuyên qua ức và bụng. Kỵ binh giáp sắt nặng nề văng khỏi yên ngựa, chìm ngập trong bùn cát ngậm mật, biến cả một dải bờ biển thành bãi hỗn chiến ngổn ngang.
Trên mặt lũy cao, Đào Duy Từ tuốt phắt bảo kiếm chỉ thẳng xuống bãi cát, quát lớn — Bắn hỏa tiễn! Đốt cháy bành voi!Ngay tức thì, Trần Đình Cẩn cùng các đội dân binh và quân sĩ Đàng Trong sau gờ chắn tên đồng loạt đứng bật dậy. Cụ Cương nhìn thấy dáng người vạm vỡ của người học trò trẻ đang thoăn thoắt chỉ huy châm lửa, tiếng thét của Cẩn vang lừng át cả tiếng sóng — Giương nỏ! Bắn dầu tràm!
Hàng ngàn mũi tên tẩm dầu tràm rực lửa được phóng đi rào rào như mưa sao băng giáng xuống mặt cát. Những ngọn lửa đỏ rực cắm phập vào các bành gỗ lim trên lưng voi và táp vào lớp da của bầy thú. Dầu tràm bén lửa bùng cháy ngùn ngụt, mùi dầu cay nồng quyện với hương mật mía sém lửa bốc lên khét lẹt. Đám cung thủ giặc trên bành voi hoảng loạn la hét rồi rơi lả tả xuống rãnh hào.
Bị lửa thiêu cháy rát và khói cay mù mắt, đàn voi chiến hoàn toàn nổi điên. Chúng không còn nghe theo lời quản tượng, lồng lộn quẫy đạp, rống lên man dại rồi quay ngoắt đầu lại. Với sức vóc khổng lồ và cặp ngà thép nhọn hoắt, bầy voi điên cuồng cày xới ngược trở lại, húc thẳng vào đội hình thiết kỵ và bộ binh Đàng Ngoài đang chen chúc phía sau. Cảnh tượng giẫm đạp kinh hoàng diễn ra trước mắt cụ Cương: giáo mác gãy vụn, cờ xí tơi bời, chính vũ khí xung kích lợi hại nhất của quân Trịnh đã quay lại xé toạc chiến tuyến của họ thành từng mảnh vụn.
Thấy thời cơ ngàn năm có một đã tới, Lộc Khê hầu Đào Duy Từ lập tức phất cao lá cờ thắm trên tay, truyền lệnh sang sảng — Mở toang cửa lũy! Toàn quân xuất kích!
Ba hồi trống trận dồn dập nổi lên từ đỉnh lũy Đầu Mâu truyền dài ra tận mép sóng Nhật Lệ. Dưới chân thành, các cánh cửa lũy bí mật bằng gỗ lim ken tre gai dày dặn bất thần mở tung. Bộ binh Đàng Trong cùng hàng ngàn dân binh mang theo giáo dài, khiên mây và dao chặt đồng loạt xông ra như triều dâng thác đổ. Cùng lúc đó, ngoài khơi cửa biển, hạm đội thuyền chiến Đàng Trong với những cánh buồm no gió cũng rẽ sóng áp sát bờ, giáp công dữ dội ghìm chặt đường rút lui của thuyền giặc.
Hai gọng kìm thủy bộ Đàng Trong như những mũi dao sắc bén thọc sâu vào mạn sườn quân giặc đang rối loạn. Kỵ binh giặc mất thế sa lầy, bộ binh tan tác không còn hàng ngũ, chỉ biết gào khóc tìm đường tháo thân.
Đứng giữa làn khói đạn nghi ngút và tiếng reo hò vang dậy non sông, Bành Tấn Cương run run đưa bàn tay áp chặt vào thân lũy cát. Bức lũy cao hơn một trượng, mặt lũy phẳng rộng hai trượng sừng sững tựa dãy trường thành bằng đồng thau, vững vàng như bàn thạch giữa muôn trùng sóng gió và đạn lửa. Không một tấc công sự nào sụp đổ. Không một vết rạn nứt nào xuất hiện trên thớ vách nâu đỏ ngạt ngào mùi mật mía quyện vị mặn mòi của biển cả.
Dưới chân lũy, hàng vạn con em Đàng Trong — những người nông dân chân lấm tay bùn, những phu phen dầm sương dãi nắng nện từng nhịp chày ba, những phụ nữ xóm bãi như bà Mụ Đoan gánh từng gàu mật — tất cả đều vẹn nguyên sinh mạng, kiêu hãnh ngẩng cao đầu trước vó ngựa quân thù.
Nước mắt bỗng trào ra, lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo sạm đen gió biển của người thợ cả sáu mươi ba tuổi. Mười lăm năm đằng đẵng trôi qua, chưa một đêm nào cụ nguôi ngoai nỗi đau xé lòng khi dòng nước lũ cuốn mất đứa con trai cả trong đêm vỡ đê năm ấy. Vết thương lòng rỉ máu từng biến thành nỗi dằn vặt khôn nguôi, nay như được gột rửa sạch trơn dưới chân bức lũy cát này. Cụ đã giữ trọn lời thề đời thợ. Cát biển rời rạc nhờ mật mía thảo thơm và mồ hôi muôn dân đã kết thành vách sắt chở che cho giang sơn bờ cõi. Nơi chín suối, con trai cụ ắt đã có thể mỉm cười an nghỉ.
Hoàng hôn buông xuống đỏ rực cả một vùng trời cửa Nhật Lệ, nhuộm thắm những ngọn sóng bạc đầu và thân lũy kiên cường. Từ phía bản doanh quân Trịnh, tiếng chiêng thu quân thê lương vang lên rền rĩ khắp bờ sông Nhật Lệ, tàn quân giặc tháo chạy hỗn loạn về phía bờ bắc sông Gianh trong ánh hoàng hôn rực lửa.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
