Chương 17: Khép Cửa Giang Sơn

Hồi tù và rúc liên miên từ vọng gác cồn cát tựa như nhát dao cứa vào sự tĩnh mịch của bãi triều. Bành Tấn Cương đứng sững trên nền đất ướt, ánh mắt già nua găm chặt vào ngọn khói hiệu đen kịt đang cuồn cuộn bốc l*n đ*nh trời phía cửa biển. Lửa cháy trên đỉnh chòi canh đỏ rực như giọt máu tươi rỏ xuống mặt nước Nhật Lệ.

Đào Duy Từ siết chặt chuôi gươm lệnh, chiếc áo lông sam bay phần phật trong gió sớm lạnh buốt. Viên võ tướng râu hùm cùng các tòng tướng mặt biến sắc, lập tức bước giật lùi về phía quan Lộc Khê hầu, giọng dồn dập — Thưa quan Thầy! Buồm giặc đã qua cửa Gianh, xuôi theo ngọn gió đông bắc này, chỉ đến chập tối là tiền quân Trịnh Tráng sẽ áp sát cửa biển!

Cụ Cương không đợi Đào Duy Từ lên tiếng, chiếc thước tầm gỗ lim trong tay cụ đã dằn mạnh xuống mặt cát nghe một tiếng “cốp” khô khốc. Cụ quay phắt người lại, hướng mắt về phía cuối tuyến công sự — Còn mười trượng! Chỉ còn đúng mười trượng nối mép hào vào chân sóng ngầm! Nước triều rạng sáng đang rút cạn, nếu không lấp kín cửa móng trước giờ ngọ, giặc tràn vào sẽ bẻ gãy sườn lũy!

Trần Đình Cẩn tay lăm lăm chiếc vồ gỗ lim, lồng ngực vạm vỡ phập phồng sau vệt sẹo non đỏ sẫm. Chàng quát lớn, giọng sang sảng át cả tiếng sóng gầm — Đội thợ cọc tre theo ta! Dân binh xóm bãi mang kiệu ván lại đây! Nước rút một tấc, ta nện chày theo một tấc!

Trời rựng sáng, ánh bình minh nhợt nhạt phủ lên bãi cát trắng mênh mông một dải màu chì xám xịt. Từ phía sau những rặng dứa dại và bụi liễu gai ven cồn bãi Động Hải, tiếng bánh xe nghiến kẽo kẹt trên cát sỏi bỗng dội tới rộn rã.

Bà Mụ Đoan dẫn đầu đoàn xe trâu và kiệu khiêng rầm rập tiến ra mép hào. Chiếc khăn điều quấn trên đầu bà ướt đẫm hơi sương và vương đầy mồ hôi, hai vạt áo chàm bết dính những giọt mật nâu óng. Phía sau bà, hàng trăm phụ nữ xóm bãi gánh gồng kĩu kịt, áp tải ba mươi chiếc chum gốm da chuồn to sừng sững.

— Bác Cương! Mật mía de ba lửa vét sạch đáy lò của mười tám xóm bãi đây rồi! — Bà Đoan th* d*c, quệt mồ hôi trán, nụ cười rạng rỡ làm sáng bừng gương mặt sạm nắng gió — Già này cùng chị em vét đến giọt mật cuối cùng! Cứ tưới cho ngập cát, quyết không để thiếu một gáo vữa nào!

Đám phụ nữ làng mía thoăn thoắt hạ gánh, bưng những niêu đất bốc khói nghi ngút và các thúng cơm nắm độn khoai dẻo quánh chia tận tay từng người thợ.

— Uống bát nước chè gừng cho ấm bụng, các con! Ăn miếng cơm nắm lấy sức mà quai chày!

Cụ Cương đón lấy bát nước đỏ sánh men gừng từ tay bà Đoan, hớp một ngụm lớn. Vị cay nồng xộc thẳng lên cuống họng, xua tan cái lạnh thấu xương của gió biển ngậm muối. Cụ nhìn quanh, hàng vạn khuôn mặt phu phen hốc hác sau những đêm ròng thức trắng, bắp tay ai nấy rớm máu vì cọ xát tre gai, nhưng trong đáy mắt của từng người thợ, từng người lính đều rực lên ngọn lửa kiên cường đến kỳ lạ. Không một ai lùi bước. Không một lời than vãn.

— Bà con! Trút mật vào hố vữa! — Cụ Cương gầm lên một tiếng vang động bãi cát.

Mật mía đặc quánh màu cánh gián từ các miệng chum tuôn xối xả vào các hố vôi hàu nung sủi bọt ùng ục. Mùi ngọt ngào ngạt quyện chặt với mùi hăng nồng của vôi vỏ sò bốc lên nghi ngút giữa ban ngày. Đất sét đỏ từ đồi gò chuyển tới được xúc từng xẻng lớn đổ ập vào lòng vữa, nhào trộn thành thứ hồ dẻo quánh tựa keo đọng.

Tại mười trượng khoảng hở cuối cùng nơi cửa lũy tiếp giáp chân triều, sóng biển đang gầm thét dữ dội. Cụ Cương cởi phăng tấm áo chàm rách vai, để lộ tấm lưng gầy guộc chằng chịt gân cốt của người thợ già sáu mươi ba tuổi. Cụ bước phăng phăng xuống lòng rãnh ngập bùn cát, nắm chặt lấy một cán chày ba bằng gỗ nghiến cùng hai chàng trai vạn chài vạm vỡ.

— Dô ta... này anh em ơi! — Cụ Cương cất tiếng hò mở nhịp, giọng khàn đục mà âm vang như tiếng trống trận.

— Hò dô ta! — Hàng vạn cánh tay đồng thanh đáp lại, tiếng hô vang dậy làm rung chuyển cả bãi cát dài.

“Thùm! Thùm! Thùm!”Ba mũi chày gỗ bịt sắt giáng dồn dập vào khối vữa cát sét vôi mật nằm gọn trong khung ván lim. Từng nhát nện chuẩn xác ép chặt các hạt cát rời rạc, đẩy sạch những bọt khí li ti thoát ra ngoài. Cát biển, đất đồi, vôi hàu và mật mía quyện chặt lấy nhau, nén lại ngay dưới từng đợt chày giáng. Mười trượng rãnh hào thu hẹp dần từng thước, từng tấc dưới sức mạnh của muôn người.

Khi vệt vữa cuối cùng được đầm phẳng lỳ ngang mép nước, Trần Đình Cẩn cùng bốn người thợ khiêng tới một thân tre gai ngâm bùn già đanh, đen nhánh như thanh thép tôi. Cụ Cương đón lấy chiếc cọc, cắm thẳng đứng vào mắt xích rào gai cuối cùng nối liền với đá ngầm dưới đáy biển.

Cụ vung cao chiếc vồ gỗ lim bằng cả hai cánh tay nổi rõ từng đường gân, dồn toàn bộ sinh lực của cuộc đời người thợ già giáng xuống đỉnh cọc “Chát! Chát! Chát!”

Thân tre cắm ngập sâu vào tầng sét gốc bên dưới lòng cát biển. Chiếc cọc tre gai cuối cùng đã đứng vững. Khung rào mắt cáo khóa chặt lại, không còn một kẽ hở nào có thể lọt qua.

Hơn ba ngàn trượng chiến lũy nối liền từ vách đá cheo leo của núi Đầu Mâu, băng qua đầm bãi sú vẹt, xuyên suốt cồn cát Động Hải và đâm thẳng ra mép sóng cửa biển Nhật Lệ chính thức khép kín!

Đúng vào lúc ấy, mặt trời từ từ ngả bóng về phía tây. Ánh hoàng hôn của ngày thứ một trăm buông xuống đỏ rực như một dải lụa lửa vắt ngang chân trời. Toàn bộ thân lũy cát ngậm mật sừng sững vươn mình giữa trời đất, cao hơn một trượng, mặt lũy phẳng phiu rộng thênh thang hai trượng đủ cho hai cỗ xe ngựa tránh nhau. Những gờ chắn tên nhấp nhô dọc mép lũy đón trọn ánh nắng chiều tà, ánh lên sắc nâu đỏ trầm hùng của đất gò quyện vôi mật. Hương thơm nồng nàn của mật mía chín lửa tỏa ngát cả một vùng duyên hải, lấn át vị mặn chát của sóng biển ngàn khơi.

Một kỳ tích phòng thủ chưa từng có trong sử sách Đàng Trong đã hoàn thành, vừa vặn khép lại trước khi giặc kịp đặt chân tới bãi bờ.

Đào Duy Từ dẫn đầu các tướng lĩnh rảo bước lên mặt lũy. Viên võ tướng râu hùm bước đi thận trọng, bàn tay to lớn vỗ mạnh vào bờ thành vững chãi, nét mặt bàng hoàng thán phục không thốt nên lời.

Quan Lộc Khê hầu dừng lại trước mặt Bành Tấn Cương. Ngài nhìn bờ vai đẫm mồ hôi của người thợ cả, nhìn lớp da tay chai rạn của hàng ngàn phu phen đang đứng dưới chân thành. Đào Duy Từ chắp tay, cúi đầu thật sâu trước cụ Cương và toàn thể dân binh — Cương huynh! Hơn ba ngàn trượng rồng đất này là do xương máu, mồ hôi và lòng son của trăm họ đắp nên! Giang sơn Đàng Trong đời đời khắc ghi công đức này!

Ngài quay sang ba quân, cất giọng sang sảng ban bố quân lệnh — Toàn thể thợ thuyền, dân phu và phụ nữ bãi bồi! Sứ mệnh kiến thiết của các ngươi đã hoàn tất vẻ vang! Nay lập tức rút về phía sau tuyến lũy thứ hai, chuẩn bị niêu cơm ấm nước, thuốc men cứu thương, canh giữ kho lương tiếp ứng!

— Tuân lệnh quan Thầy! — Tiếng vạn dân hô vang, rầm rập rút lui theo từng toán trật tự.

Mặt lũy nhanh chóng được nhường lại cho hàng vạn quân chính quy. Những cỗ súng thần công bằng đồng sáng loáng được đẩy vào vị trí đón lõng cửa biển; hàng ngàn tay cung, tay nỏ túc trực sau gờ chắn; dưới chân lũy, các hầm chông tre gai sắc lẹm được ngụy trang kín đáo dưới lớp cát mỏng. Một thế trận phòng thủ sinh tử đã sẵn sàng giăng ra.

Bành Tấn Cương đứng bên bờ gờ chắn tên, cây thước tầm lim tỳ chặt xuống mặt thành. Gió chiều thổi lộng tà áo, mái tóc hoa râm bay rối bời.

Đột nhiên, từ đỉnh đài cao vọng gác, hồi tù và lại rúc lên từng tràng dồn dập, khoét sâu vào ráng chiều tà. Người lính canh trên chòi cao điên cuồng vẫy ngọn cờ lệnh màu đỏ thắm về phía bắc.

Cụ Cương nheo mắt nhìn qua mặt lũy.

Ngoài khơi xa, hạm đội chiến thuyền giặc Trịnh giương buồm đen kịt rợp cả góc biển, sóng cồn cuộn dâng dưới hàng ngàn mái chèo xé nước tiến vào cửa Nhật Lệ. Cùng lúc đó, trên dải đường thiên lý ven bờ, cát bụi bốc cao ngùn ngụt mù mịt cả góc trời. Hàng ngàn lá cờ thêu kim tuyến bay phần phật, tiếng vó ngựa rập rình rung chuyển mặt đất cùng tiếng chiêng lệnh rền vang báo hiệu năm vạn đại quân bộ binh và thiết kỵ dưới quyền Thanh Đô vương Trịnh Tráng đã tràn tới chân lũy.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.