Chương 14: Dáng Lũy Vươn Cao

Ánh đuốc dầu tràm rọi thẳng vào những dòng chữ son trên bức mật lệnh. Đào Duy Từ chậm rãi cuộn dải lụa dầu lại, ánh mắt ngưng đọng nhìn Bành Tấn Cương. Khoảng lặng nặng nề trùm lên bãi cát, chỉ còn tiếng sóng gầm gào ngoài mép lạch. Quân giặc đất Bắc không đợi đến mùa nước nổi mới xuất chinh; ngày chúng vượt sông Linh Giang đã cận kề hơn trù liệu ngót một tuần trăng.

— Giải tên phản tặc này vào ngục thất dinh Động Hải, đợi ngày khải hoàn sẽ theo quân pháp xử trảm! — Đào Duy Từ phất tay áo, giọng lạnh như băng tuyết.

Toán trinh sát lập tức lôi Vũ Đình Túc cùng lũ thám báo đi khuất vào bóng đêm. Cụ Bành Tấn Cương hít một hơi dài, đưa tay xoa nhẹ hai cánh tay chằng chịt vết sẹo do tàn lửa vụ cháy kho nay đã lên da non đỏ sẫm. Cạnh cụ, Trần Đình Cẩn cũng khẽ sờ vệt thương dài trước ngực nơi từng bị mũi giáo va quẹt. Những dấu tích thịt da ấy giờ hóa thành niềm kiêu hãnh của người thợ nện đất quyết đem thân mình làm đá tảng giữ cõi bờ.

— Cương huynh! — Đào Duy Từ bước tới, đặt bàn tay thanh mảnh lên vai người thợ già. — Mầm độc sau lưng áo đã nhổ sạch, nhưng mũi gươm giặc đã kề sát chân mày. Trăm họ Đàng Trong trông cậy cả vào đôi tay của huynh và bà con.

— Quan Lộc Khê hầu cứ yên lòng! — Cụ Cương ngẩng cao đầu, giọng đanh chắc như gỗ lim già. — Còn một hơi thở, lão quyết không để vó ngựa giặc giẫm qua bờ Nhật Lệ!

Không một khắc ngơi nghỉ. Ngay khi rạng đông vừa ửng hồng mép biển, cụ Cương dốc toàn lực dẫn đầu vạn dân binh đắp thông dải lũy then chốt: tuyến công sự nối từ dinh Động Hải đâm thẳng ra mép sóng triều dâng, đón đầu mọi mũi thọc sâu từ thủy bộ phương Bắc.

Trên bãi cát dài ngút tầm mắt, không khí sôi sục như chảo lửa. Hàng ngàn bóng người áo nâu hối hả đào rãnh móng, chuyển đất sét đỏ từ gò đồi, gùi vôi hàu nung đổ xuống bãi trộn. Thế nhưng, giữa lúc nhịp việc khẩn trương tột cùng, một biến cố bất ngờ ập đến: các vạc vữa bỗng ngưng trệ.

Trần Đình Cẩn từ phía dãy hố tôi vữa hớt hải chạy lại, vạt áo chàm đẫm mồ hôi cát: — Thầy ơi, nguy rồi! Lòng móng đào sâu và vươn dài ra biển để đón triều cường, lượng vữa sét cần dùng nhiều gấp bội. Ba mươi lò mật của dinh trấn nấu không kịp, mấy vựa dự trữ vét đến chum cuối cùng rồi! Đám thợ nhào vữa đang phải đứng chôn chân nhìn hố cát!

Cụ Cương bước vội tới dãy vạc đồng lớn. Lớp mật mía de sanh sánh nâu đỏ dưới đáy chỉ còn trơ vệt mỏng, không đủ hòa nổi hai thúng vôi hàu. Thiếu mật mía làm huyết dẫn, cát biển trộn đất sét chỉ là mớ bùn rời rạc, một đợt triều dâng là cuốn phăng tất cả. Cạn mật lúc này chẳng khác nào bẻ gãy nhịp thở của bức lũy!

Đúng lúc ấy, từ phía ngã ba lạch sông bỗng vang lên chuỗi thanh la rộn rã hòa cùng tiếng tù và bằng vỏ ốc u u trầm hùng.

Trên mặt nước, một đoàn thuyền nan rẽ sóng lao vun vút vào bờ cát. Dọc triền cồn, hàng trăm cỗ xe bò, xe trâu chở đầy chum vại gốm da lươn rầm rập tiến tới, cát bụi cuộn mù mịt dưới bánh gỗ. Dẫn đầu đoàn là chiếc tam bản lớn cắm cờ điều. Người đứng ở mũi thuyền, tay cầm dải chèo gõ nhịp chan chát, chính là bà Mụ Đoan. Chiếc khăn điều quấn trên đầu bà bay phần phật, nụ cười rạng rỡ để lộ hàm răng đen nhánh.

Thuyền vừa chạm bãi bồi, bà Mụ Đoan thoăn thoắt nhảy xuống mép nước xăm xắp, cất giọng sang sảng át cả tiếng sóng: — Bác Cương ơi! Bà con các hội lò tổng Động Hải mang mật đến nuôi lũy đây! Nghe tin trường lũy thiếu mật giữ móng, mười tám làng bãi mía đã dốc cạn từng giọt mật de gia truyền ba lửa! Chúng tôi gom chở đến hơn năm trăm chum mật loại nhất, quánh đặc như keo!

Cụ Cương rảo bước ra tận mép nước, nhìn hàng trăm chum mật đang được dân phu hò reo khiêng xuống bãi, đôi mắt người thợ già ngân ngấn nước: — Đội ơn nghĩa cử trời biển của bà con! Ơn này giang sơn Đàng Trong ghi tạc!

— Bác nói gì lạ thế! — Bà Mụ Đoan gạt giọt mồ hôi trên má, cười hào sảng. — Lũy mất thì làng tan, mồ mả tổ tiên cũng bị vó ngựa xới tung. Giữ được cõi bờ thì vụ sau phù sa lại xanh ngắt ngọn mía! Mấy đứa đâu, nổi lửa lên!

Ngay trên bãi cát ven chân lũy, hàng chục dãy bếp dã chiến được khoét sâu vào lòng đất. Phụ nữ xóm cát thoăn thoắt bửa củi, nhóm lửa, bắc những chảo gang khổng lồ nổi bọt mật sôi sùng sục. Khói bếp bảng lảng quyện lấy mùi mật mía ngọt lịm bốc men lan tỏa khắp dải duyên hải.Có mật tiếp huyết, sinh khí bãi thợ bừng lên mạnh mẽ. Cụ Bành Tấn Cương tay cầm ngang cây thước tầm, sải bước thoăn thoắt dọc tuyến móng, trực tiếp truyền dạy kỹ thuật đan cọc móng hiểm hóc.

— Lắng tai nghe đây các con! — Cụ gõ đầu thước tầm xuống giàn tre gai vừa hạ rãnh. — Cát biển xốp rời, muốn giữ chặt thịt đất thì xương tre phải đan mắt cáo tầng tầng lớp lớp! Cọc cái đóng sâu sáu thước chạm vỉa sét gốc, cọc con vát nhọn ken chéo hình cánh chả, khóa chặt đuôi nhau bằng rễ dứa dại và dây mây ngâm bùn! Một cọc lung lay thì trăm cọc gánh đỡ!

Theo hiệu lệnh chuẩn xác của cụ Cương, hàng vạn cọc tre gai ngâm bùn trăm ngày đanh như sắt được vồ gỗ giáng xuống, ken thành mạng rễ cọc khổng lồ, bện chặt không một kẽ hở.

Khi khung xương tre định hình, lớp vữa ba phần cát sét đỏ hòa hai phần vôi hàu sôi mật mía được trút ồ ạt vào lòng khuôn ván lim. Trần Đình Cẩn đứng trên bệ vách, giơ cao thanh thước gõ cọc, cất giọng hò khoan dẫn nhịp — Ơ hò... Nện cho cát quyện lấy tre... Ơ hò... Cho tường đồng đứng, cho bè giặc tan...

— Hò dô ta nào! — Tiếng vạn dân binh đồng thanh đáp lại, vang dội làm rung chuyển cả ngọn triều ngoài cửa lạch.

Nhịp chày ba rầm rập giáng xuống. Ba người một tổ, ba thân chày gỗ nghiến giáng so le theo vòng tròn đồng tâm, nện thụp thụp vào lòng vữa. Bọt khí bị sức nén ngàn cân ép bật ra ngoài. Cát biển mịn ngậm chặt lấy mật mía cô đặc và vôi hàu, ép sát vào từng gióng tre gai, kết lại thành một khối rắn đanh, trơn láng và vững như đá tảng.

Mỗi lớp chày ba nện xong, một tầng cát mật mới lại phủ lên. Lũy lớn dần lên dưới đôi bàn tay chai sạn của muôn người. Chẳng mấy chốc, mặt lũy đã vươn cao hơn một trượng, sừng sững vượt quá tầm giáo mác. Mặt trên của chiến lũy được nện phẳng lì, rộng thênh thang tới hai trượng, đủ chỗ cho hai cỗ xe ngựa tránh nhau chạy dọc tuyến phòng thủ, hai bên mép lũy đắp gờ chắn tên cao ngang ngực.

Hoàng hôn buông xuống trên cửa biển Nhật Lệ. Ráng chiều tà dát lên bãi cát dải lụa vàng cam rực rỡ.

Đứng trên bờ lũy cao, cụ Bành Tấn Cương chống cây thước tầm, phóng tầm mắt nhìn dải công sự vừa vươn dài. Bức lũy uốn lượn men theo thế đụn tự nhiên kéo dài tít tắp ra mép sóng bạc, hệt một con rồng đất khổng lồ khoác áo giáp nâu sẫm, trầm mặc thách thức biển trời. Cụ đưa tay vuốt lên vách lũy; lớp cát mật đã nguội, sờ vào mát rượi và cứng đanh như đá núi. Trong làn gió nồm lồng lộng, mùi tanh nồng của bọt sóng dường như bị lấn át bởi hương mật mía ngọt lành, ấm áp — mùi hương của mồ hôi, của lòng dân kết thành bức trường thành chở che non sông.

Trần Đình Cẩn bước đến bên cạnh, khẽ cất lời: — Thầy ơi, tường lũy ra đến mép sóng rồi. Cát biển ngậm mật mía quả thực đã hóa đá!

Nụ cười đôn hậu rạng rỡ trên khuôn mặt hằn sâu nếp nhăn của người thợ già. Nhưng niềm hân hoan chưa kịp trọn vẹn thì bỗng nhiên, một âm thanh dồn dập vang lên từ phía bờ bắc.

Tiếng vó ngựa phi nước đại xé toạc ráng chiều tà.

Một kỵ mã trinh sát mình đầy bụi cát, áo giáp tả tơi, tay cầm ngọn cờ lệnh màu đỏ rách bươm đang liều mạng thúc ngựa vượt qua cồn cát, phóng thẳng vào doanh trại. Tiếng thét thất thanh của viên kỵ mã xé rách màn hoàng hôn — Khẩn báo! Quân tình khẩn cấp từ bờ sông Linh Giang! Chiến thuyền giặc Bắc đã rợp kín cửa sông, kỵ binh tiên phong của chúa Trịnh đã bắt đầu nhổ trại vượt sông tràn sang!

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.