Chương 3: Khảng Khái Chàng Trai Làng

Trước cửa liếp vừa bị xô bật, người thanh niên đứng sừng sững như một thân cây lim giữa nắng gió duyên hải. Đôi vai vạm vỡ căng cứng dưới lớp áo nâu cộc tay vá vai, lồng ngực phập phồng th* d*c, hai mắt đỏ ngầu quắc lên tia giận dữ tột cùng. Bàn tay gân guốc của chàng siết chặt lấy cán cuốc sắt dính đầy bùn khô, gân xanh nổi cuồn cuộn trên cánh tay màu đồng hun.

Thím Hai Lành giật thót mình, vội nghiêng người che chắn chiếc gùi thóc giống sau chõng tre. Bé Mận sợ hãi sà vào lòng mẹ, hai tay túm chặt lấy vạt áo vá. Nhận ra người vừa xông vào, thím thở phào một hơi nhưng giọng vẫn run run “Chú Chấn! Khẽ cái mồm thôi chứ, làm mẹ con tôi thót cả tim! Chú vác cuốc hùng hổ thế kia làm gì?”

Ánh mắt nảy lửa của Trần Chấn lướt qua gian lều tranh, dừng lại trên vóc người gầy guộc của cụ Vân Chiêu Khôi nơi góc chõng. Chàng trai trẻ khựng lại, trong đáy mắt thoáng qua nét ngỡ ngàng khi bắt gặp một ông già râu tóc bạc phơ đang ngồi điềm tĩnh nơi góc chõng tre. Nhưng cơn uất hận dồn nén lại bùng lên như ngọn lửa gặp gió, Chấn dộng mạnh đuôi cán cuốc xuống nền đất nện đánh thụi một tiếng “Thím Hai! Con vừa đi đắp bờ mương về thì nghe bà con xôn xao bảo hai thằng tay sai của Tiền Bá Vạn dẫn người sang đây đập phá, dọa dỡ rui mè ép nợ mười lăm quan tiền kẽm! Món nợ oan khiên ấy vốn chỉ có ba quan, lão Tiền tính lãi mẹ đẻ lãi con để cướp đất cướp nhà. Con không thể nhịn thêm được nữa! Con phải sang tận Tiền gia trang bổ vỡ đầu lão phú hào bất nhân ấy, liều một phen sống mái xem trời có mắt hay không!”

Dứt lời, Chấn nghiến răng ken két, xoay phắt người toan lao ra khỏi cửa lều tranh.

“Đứng lại!”

Tiếng quát không lớn nhưng trầm ấm, chắc nịch vang lên giữa gian nhà lá. Cụ Vân Chiêu Khôi đã bước tới cửa liếp tự lúc nào. Bàn tay thô ráp chai sần của cụ vươn ra, đặt nhẹ lên cán cuốc sắt đang run lên vì phẫn nộ trong tay Trần Chấn. Ánh mắt bao dung mà uy nghiêm của cụ khiến bước chân của chàng trai vạm vỡ khựng lại. Chấn quay đầu nhìn cụ, hơi thở vẫn còn hầm hập “Cụ Khôi! Cụ là bậc túc nho, hiểu việc kinh thư, nhưng cụ chưa thấu hết nỗi cay đắng của đám dân cùng đinh Bạch Nham này đâu! Lão Tiền ép người quá đáng, con mà không liều mạng thì mẹ con thím Hai chỉ có nước chết đói!”

Cụ Khôi nhìn thẳng vào đôi mắt vằn tia máu của người thanh niên, giọng từ tốn nhưng đanh thép “Chấn này, con định lấy một lưỡi cuốc sắt chọi lại mấy chục tay đấm hộ viện gậy gộc giáo mác của họ Tiền sao? Giả như con có bổ được một nhát cuốc, thì ngày mai sai nha huyện Duyên Hải kéo về xích cổ tống con vào ngục tối. Lúc ấy ai nuôi người mẹ già mù lòa nơi túp lều rách? Mảnh ruộng hương hỏa cha con để lại chẳng phải sẽ lọt trọn vào tay lão Tiền hay sao?”

Từng lời rành rọt, thấu tình đạt lý như gáo nước lạnh tạt thẳng vào ngọn lửa giận đang bốc hỏa trong lòng Trần Chấn. Chàng trai sững sờ, bờ vai gồng cứng dần buông lỏng. Cán cuốc sắt trượt khỏi tay, cắm phập lưỡi xuống mé hiên đất.

Cụ Khôi khẽ vỗ vai chàng trai, ánh mắt dịu lại “Dùng nắm đấm với phường cường hào chỉ là cái dũng của kẻ thất phu. Chúng có tiền, có thế, có quan nha chống lưng, chỉ mong con bốc đồng phạm pháp để danh chính ngôn thuận đoạt đất cướp nhà. Muốn đánh ngã loài lang sói, con phải dùng mưu trí và đạo lý, chứ không thể đem tính mạng ra nướng vào chảo lửa.”

Bị đánh trúng chỗ hiểm, Trần Chấn ngồi thụp xuống bậu cửa, hai tay ôm lấy đầu. Lồng ngực vạm vỡ của chàng rung lên từng chập, tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ khóe môi khô khốc “Cụ ơi... Con căm hận lũ người ấy đến tận xương tủy! Cha con... cha con chết oan uổng ngoài đầm phèn cũng chỉ vì vạch trần dã tâm của chúng!”

Thím Lành bưng bát nước ấm lại gần, nghe Chấn nhắc đến người cha đã khuất liền bùi ngùi thở dài. Bé Mận rón rén bước tới, đưa bàn tay nhỏ xíu nắm lấy cánh tay rám nắng của người anh cùng xóm.

Cụ Khôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện, điềm tĩnh lắng nghe.

Qua từng lời kể ngắt quãng trong nước mắt của Trần Chấn, một bức màn đen tối năm xưa dần hé lộ. Cha của Chấn vốn là người thợ đo đạc đồng đất kỳ cựu của tổng Bạch Nham, am tường từng cọc mốc, bờ cõi ruộng nương. Mấy năm trước, Tiền Bá Vạn cấu kết với Đề lại Nguyễn Tòng ở huyện nha, toan sửa đổi địa bạ, bí mật rút ngắn sợi dây đo và cọc thước gỗ nhằm biến hàng chục mẫu ruộng hương hỏa của dân làng thành đất hoang vô chủ. Cha Chấn phát hiện ra sai số gian lận ấy, kiên quyết không chịu ký tên điểm chỉ vào bản đồ bạ mới.

Chỉ vài ngày sau, người ta vớt được xác ông trôi dạt nơi mé đầm phèn, toàn thân bầm dập. Nha huyện vội vã kết luận ông trượt chân chết đuối trong đêm tối rồi đóng hòm chôn cất, dập tắt mọi lời kêu oan. Mẹ Chấn vì khóc thương chồng mà mù lòa đôi mắt, còn chàng trai ôm mối hận thù nung nấu từ thuở thiếu thời.

Nghe xong câu chuyện, cụ Khôi thở dài một tiếng thật sâu, chòm râu bạc khẽ rung lên vì xót xa. Cụ đứng dậy, bước ra trước hiên nhà, nhìn về phía ba mẫu ruộng phèn của gia đình thím Lành trải dài ngút ngát phía sau lều tranh.“Đi theo ông.” Cụ Khôi quay lại bảo Chấn.

Trần Chấn lau vội nước mắt, cầm cuốc lầm lũi bước theo sau cụ già lưu đày.

Hai người dừng lại bên bờ ngòi ngăn cách con đường mòn với vạt ruộng trũng. Trước mắt họ, ba mẫu đất hoang chỗ gò cao thì nứt nẻ dưới nắng chiều, chỗ vũng trũng thì mặt bùn lồi lõm từng mảng váng màu gỉ sắt lấp loáng như mắt cá chết. Cỏ năn, cỏ lác lơ thơ quắt queo, không một bóng chim nào dám sà xuống kiếm mồi.

Cụ Khôi cúi người, dùng hai ngón tay nhón một mẩu đất bùn nhão đỏ quạch đưa lên mũi ngửi, rồi đưa đầu ngón tay khẽ nếm. Vị chua gắt xộc lên tận mũi, chát đắng cuống họng. Cụ đưa nắm đất cho Trần Chấn xem “Chấn, bà con trong làng bấy lâu nay vẫn bảo đất này dính lời nguyền ma quỷ, trời đất trừng phạt nên lúa cấy xuống là thối rễ, cháy lá có phải không?”

Chấn gật đầu, giọng đượm vẻ cay đắng “Dạ phải. Mọi người đều bảo đầm này máu trâu tích tụ từ ngàn xưa, đất chết rồi, cấy cày chỉ tổ tốn thóc giống.”

Cụ Khôi lắc đầu, mỉm cười nhân từ “Trời đất sinh ra muôn loài chẳng bao giờ tuyệt đường sống của con người. Đất này không có ma quỷ nào ám cả. Sở dĩ rễ lúa bị thối đen, lá cháy vàng là vì trong lòng đất tích tụ một lượng độc chất phèn chua ngậm sâu dưới đáy. Nắng hạn thì chất chua bốc ngược lên mặt ruộng, nước tù đọng thì rỉ sắt bám chặt nghẹt thở rễ non.”

Cụ đưa tay chỉ về phía cửa biển Hàm Giang xa xa, nơi từng ngọn gió mang theo hơi mặn của đại dương thổi vào lồng lộng “Con nhìn con nước lớn ròng mỗi ngày xem. Cửa biển Hàm Giang theo nhịp bán nhật triều, ngày hai lần nước lên nước rút. Nếu ta biết đào mương xương cá thau rửa, mượn sức nước ròng kéo chất chua độc hại đổ ra biển khơi; lại mượn dòng nước ngọt thượng nguồn tràn vào rửa sạch đồng bãi, thì đất sẽ nhẹ bớt độc phèn.”

Cụ lại chỉ tay về dải Cồn Vỏ Ốc trắng xóa ngút ngàn sát mé biển “Ở đằng kia, hàng vạn sọt vỏ sò ốc nằm phơi mình qua ngàn năm chính là vị thuốc trời ban! Chỉ cần gom vỏ sò đem nung qua lửa than cho nát vụn thành bột vôi trắng, rồi tôi nước rải đều khắp mặt ruộng, chất vôi ngọt lành ấy sẽ khử sạch vị chua gắt, lắng lớp gỉ sắt xuống đáy bùn. Lúc ấy đất sẽ tơi xốp, hạt mầm cắm xuống ắt sẽ bén rễ xanh tươi!”

Từng lời, từng câu của cụ Khôi nói ra chắc nịch, khúc chiết, mở toang một chân trời mới trước mắt Trần Chấn. Chàng trai đứng chết lặng. Chàng chưa từng thấy một ai, kể cả những bậc đồ nho hay quan lại áo dài khăn đóng, có thể thấu suốt từng thớ đất, từng nhịp sóng ngọn gió mộc mạc mà thông tuệ đến nhường ấy.

Ngọn lửa căm hờn mù quáng trong lòng Chấn bỗng chốc hóa thành niềm khát khao mãnh liệt. Chàng nhìn cụ Khôi, ánh mắt rực sáng niềm tôn kính vô ngần. Chấn buông chiếc cuốc xuống bờ cỏ, chắp hai tay cúi rạp người trước cụ già râu tóc bạc phơ “Cụ Khôi! Lời cụ nói như mở mắt cho con! Nếu cụ thật sự có cách thuần hóa đồng đất chết này, cứu lấy mẹ con thím Hai và xóm Bạch Nham, con xin đem cả tính mạng này theo cụ, cụ bảo đào mương con đào mương, cụ bảo gánh vỏ sò con gánh vỏ sò!”

Cụ Khôi mỉm cười ấm áp, đưa đôi tay gầy đỡ chàng trai đứng dậy “Tốt lắm. Món nợ mười lăm quan của thím Lành cùng ba mẫu ruộng phèn này, chúng ta sẽ biến thành một canh bạc để đối đầu với Tiền Bá Vạn. Đất của tổ tiên, một tấc cũng không để rơi vào tay phường gian ác!”

Thế nhưng, giữa lúc hai ông cháu vừa định quay vào lều bàn tính kế hoạch thì từ phía đ**m canh đầu thôn bỗng vang lên tiếng thanh la dồn dập, chát chúa phá tan buổi chiều tà.

“Keng! Keng! Keng!”

Tiếng mõ làng cùng tiếng la hét thất thanh của đám trẻ con chạy tán loạn ngoài ngõ bãi trũng rộ lên. Qua rặng dâm bụt cằn cỗi, một chiếc kiệu hoa sơn son thếp vàng do bốn gã lực điền khiêng nghênh ngang tiến vào. Đi kèm hai bên là hàng chục gia nhân áo the nẹp đỏ, tay lăm lăm gậy gộc sáng loáng, rầm rộ kéo đến vây kín ngõ nhà thím Lành.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.