Chương 18: Hương Lúa Ngậm Sữa

Ánh mắt người khách lạ nơi gốc đa đầu làng khẽ chạm vào ánh nhìn điềm tĩnh của cụ Vân Chiêu Khôi giữa sân đình rộn rã, rồi người ấy khẽ nghiêng mình, dắt con ngựa ô chậm rãi khuất sau rặng phi lao. Mối nguy nha môn tạm lùi, nhường chỗ cho những ngày cần lao nơi đồng bãi.

Thoắt cái, tuần trăng mới đã tròn vành vạnh. Gió nam non từ cửa Hàm Giang thổi về xua tan vẻ u ám sau bão dông. Cánh đồng một trăm mẫu của tổng Bạch Nham như vừa trút bỏ lớp phèn rỉ sắt ngàn năm để khoác lên màu áo mới. Từng khoảnh ruộng trải dài từ xóm Cồn Cát sang Đồng Phèn đồng loạt vươn mình bước vào kỳ trổ đòng ngậm sữa. Những bông lúa non no tròn uốn cong hình lưỡi liềm, trút bỏ lớp phấn hoa trắng li ti để ấp ủ từng giọt sữa gạo thanh ngọt. Đi giữa bờ mương, chỉ một cơn gió thoảng qua cũng đủ khiến hương lúa thơm ngát, ngào ngạt như nếp mới quyện lẫn vị mặn mòi của biển cả lan tỏa khắp ba thôn xóm.

Cụ Khôi xắn cao ống quần nâu sồng, bước men theo bờ mương xương cá. Cụ nâng niu một bông lúa non đang uốn câu. Hạt lúa lúc này còn mềm, bóp nhẹ là ứa dòng sữa trắng thơm phức. Cụ hiểu rõ đây là lúc cây lúa cần được bồi bổ; nếu đất thiếu chất hoặc phèn lạnh bốc ngược lên, hạt lúa sẽ lép lửng, cuống bông khô cháy.

Bên mé bờ, Trần Chấn cùng bác Ba Còng gánh từng thùng nước bổi mục sánh đặc lại gần. Chấn hồ hởi “Cụ ơi, nước bổi ủ bèo hoa dâu với rong rêu đã ngấu kỹ rồi. Nhưng tro vỏ sò tôi loãng tưới vào lúc này có sợ xót rễ non không cụ?”

Cụ Khôi mỉm cười, khuấy nhẹ vại nước vôi vỏ sò đã gạn trong vắt “Con chớ lo. Vỏ sò nung vôi mang chất ấm của lửa và vị biển. Khi gạn lấy nước trong hòa cùng nước bổi mục, tính gắt đã dịu đi, chỉ còn chất cứng cáp giúp vỏ trấu dày dặn, ngăn sâu bệnh và giữ cổ bông không gãy rạp. Nước bổi mục lại là sinh khí thanh mát nuôi rễ, giúp hạt sữa đông đặc thành hạt gạo mẩy tròn. Cứ theo mương mà tưới giặm, mượn con nước lớn đưa dưỡng chất ngấm vào từng gốc lúa.”

Bà con phấn khởi chia nhau từng gáo dừa tưới men theo bờ rãnh. Dòng nước mát lành thấm sâu vào đất tơi xốp, làm từng khóm lúa rung rinh như reo vui.

Xế chiều, khi hoàng hôn dát dải lụa đỏ lên sông Hàm Giang, người đàn ông trung niên mặc áo chàm dắt con ngựa ô hôm trước lại chậm rãi theo con đê tìm về xóm Cồn Cát. Dừng chân bên mé ruộng trước túp lều tranh của thím Hai Lành, người ấy buộc ngựa vào gốc phi lao rồi đứng ngắm nhìn vạt lúa xanh mướt đang ngậm sữa.

Dưới bóng rặng cây, bé Mận đang ngồi trên tảng đá tết chong chóng bằng cọng rơm khô. Thấy người lạ, cô bé ngước đôi mắt đen láy trong veo lên nhìn “Chú tìm ai thế ạ? Má cháu đang ngoài mương tưới bổi, còn ông nội Khôi đang đắp bờ đằng kia kìa.”

Người khách áo chàm mỉm cười hiền từ, ngồi xổm xuống trước mặt cô bé “Ta là khách buôn bè gỗ ghé qua sông, thấy đồng lúa trổ bông thơm quá nên dừng chân ngắm cảnh. Bé con ơi, ta nghe người ta bảo đất Bạch Nham xưa nay chỉ toàn phèn đỏ quạch, sao nay lúa lại tốt bời bời thế này?”

Bé Mận khoanh tay trước ngực, giọng trong veo ríu rít “Nhờ có ông nội Khôi đấy chú! Đất này ngày trước chua gắt, nước rỉ ra đỏ như máu trâu, cấy mạ xuống là thối rễ chết khô. Thế mà ông nội Khôi bảo gom vỏ sò ngoài cồn cát nung thành bột trắng, rải xuống mương thau rửa hết phèn độc. Ông còn dạy ủ bèo dâu làm bổi mục bón cho đất ăn no. Giờ thì chú ngửi xem, đồng thơm như có ai nấu xôi nếp ấy!”

Người khách chăm chú lắng nghe, khóe mắt ánh lên niềm thán phục. Người ấy khẽ xoa đầu bé Mận, ánh nhìn hướng về phía cụ già râu bạc đang rảo bước lên bờ đê.

Cụ Khôi rửa sạch bùn nơi bàn chân ở vũng nước đầu bờ, vắt chiếc khăn vải thô lên vai rồi bước tới. Nhìn người khách lạ, cụ khẽ chắp tay “Khách phương xa ghé xóm nghèo, chẳng hay có điều chi chỉ giáo?”Người đàn ông áo chàm vội đứng thẳng người, vòng tay đáp lễ cung kính. Phong thái người ấy đĩnh đạc, lưng thẳng như tùng bách. Dù khoác áo thô mộc, đôi mắt người ấy sáng ngời uy dũng, nơi ngón trỏ và ngón cái hằn rõ vết chai của người nhiều năm cầm bút lông chấp chính, tuyệt nhiên không phải vẻ ngoài của lái buôn tầm thường. Cụ Khôi nhận ra điều ấy nhưng vẫn giữ vẻ điềm đạm.

“Lão trượng thứ lỗi cho kẻ qua đường mạo muội,” người khách cất giọng trầm ấm. “Tôi xuôi ngược hạt duyên hải Nam Bình đã nhiều năm, chỉ thấy bãi trũng Bạch Nham ngập tràn phèn đỏ, dân tình xiêu tán vì đói nghèo. Hôm nay tận mắt thấy trăm mẫu đồng lúa ngậm sữa trĩu cành, hương thơm ngát chân trời, quả thực như thấy phép màu giữa cõi nhân gian.”

Cụ Khôi khẽ cười, đưa tay mời khách “Mời chú vào hiên tranh uống bát nước chè tươi cho đỡ bụi đường. Ruộng đồng tươi tốt là nhờ trời đất bao dung và bàn tay con người chịu khó, chẳng có phép lạ nào đâu.”

Bên chiếc chõng tre dưới bóng râm trước sân, thím Lành bưng ra ấm chè vối nóng hổi. Người khách áo chàm đón lấy bát nước, ngắm nhìn cụ già râu tóc bạc phơ, khẽ thăm dò “Đất phèn vốn là nỗi bế tắc khôn cùng của nhà nông, bao đời nay quan nha lẫn phú hào chỉ nghĩ đến việc đắp bờ làm muối. Lão trượng cớ sao lại dám đem hạt thóc đối chọi với đất dữ?”

Cụ Khôi nhấp một ngụm nước ấm, ánh mắt nhìn xa xăm ra cánh đồng lộng gió “Trời đất sinh ra muôn loài, không bao giờ tuyệt đường sống của thảo mộc. Đất phèn tuy độc, nhưng vỏ sò ốc tích tụ ngoài cồn cát qua ngàn năm chính là vị thuốc giải mà tạo hóa ban sẵn bên mé nước. Lấy lửa hun vỏ sò thành bột vôi trắng xốp để khử vị chua chát, lấy nhịp nước triều ngày hai lần lớn ròng thau rửa cặn lắng ra biển, lại lấy rơm rạ bèo mục ủ hoai trả lại sinh khí cho bùn non. Nắm vững tính nết của đất, nương theo quy luật của trời thì đất cằn cỗi đến đâu cũng thành bờ xôi ruộng mật. Người làm ruộng cốt ở chữ thuận, lấy đức dưỡng đất thì đất chẳng phụ lòng người.”

Từng lời cụ thốt ra khoan thai, mộc mạc mà thông tuệ. Người khách lạ ngồi lặng đi vì kinh ngạc. Vốn am hiểu nông tang trị thủy, người ấy hiểu sâu sắc rằng những điều lão phu này vừa nói vượt xa sách vở nông thư đương thời, là kết tinh của trí tuệ tuyệt đỉnh và tấm lòng thương dân vô bờ.

“Nghe lời lão trượng, sáng tỏ bằng đọc mười năm sách,” người khách xúc động cảm thán. “Một bậc đại trí hiểu thấu lòng đất như ngài, cớ sao lại cam chịu vùi thân nơi góc biển lưu đày này?”

Cụ Khôi đặt bát nước xuống, mỉm cười an nhiên “Án lưu đày là hạt bụi trần gian, còn tấc đất hạt thóc nuôi sống con người mới là điều chân thật. Lão phu tuổi xế chiều, chỉ mong nhìn thấy trẻ con xóm nghèo có bát cơm no, người dân giữ được mái nhà tổ tiên, thế là lòng đã thanh thản lắm rồi.”

Đêm hôm ấy, tại trạm dịch ven sông Hàm Giang cách làng Bạch Nham năm dặm đường, bốn bề tĩnh lặng, chỉ có tiếng sóng vỗ rì rào vào mạn thuyền tuần tiễu.

Trong gian phòng kín le lói ánh nến sáp, người khách mặc áo chàm chậm rãi tháo bỏ tấm áo phong trần bên ngoài. Đoạn mở tráp gỗ, ngài khoác lên mình bộ áo gấm màu lam thêu hoa văn chim hạc cao quý của bậc đại thần triều đình. Người ấy rút từ trong tay áo ra một chiếc thẻ bài bằng ngọc bích bịt vàng sáng lấp lánh, trên mặt khắc bốn chữ triện uy nghiêm: “Khâm sai thị lang”.

Khâm sai Lê Hữu Viễn đặt chiếc thẻ bài lên án thư, khẽ vuốt chòm râu ngắn, trong lòng vẫn dâng trào nỗi chấn động sau cuộc gặp gỡ ban chiều. Ngài mài mực, trải rộng tờ giấy hoa tiên rồi cầm ngọn bút lông chấm đượm mực son.

Dưới ánh nến bập bùng, từng dòng chữ sắc sảo hiện lên trên bản mật tấu dâng lên triều đình “Khởi tấu Hoàng thượng, thần đi kinh lý hạt duyên hải Nam Bình, đã tận mắt chứng kiến kỳ tích một trăm mẫu lúa ngậm sữa trĩu bông trên vùng đầm phèn Bạch Nham. Kẻ cứu vạn mạng dân lành khỏi cảnh điêu linh, biến bãi chết thành ruộng vàng, không ai khác chính là bậc kỳ tài túc nho đang mang án lưu đày oan khuất — Vân Chiêu Khôi…”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.