Chương 15: Đêm Trắng Chắn Gián Dòng Xoáy
Linh cảm chẳng lành của ông Khiêm đã không hề sai chạy một mảy may. Vừa sụp tối, bầu trời phía vàm sông Sa Đéc bỗng chùng xuống, nặng trĩu một màu chì xám xịt. Ngọn gió chướng trái mùa rít từng hồi buốt lạnh, thổi thốc từ ngoài sông cái vào làm rặng bần mé rạch nghiêng ngả, rạp mình rào rào. Dưới chân bến, mặt nước bắt đầu sôi sục réo gầm, từng đợt sóng đục ngầu phù sa đỏ quạch chồm lên l**m láp mé bờ đất thịt. Nước dâng nhanh đến rợn người, chỉ trong chớp mắt đã ngập lút các bậc thềm gỗ sàn đò, rồi tràn láng trắng xóa khắp bãi bồi ven rạch Cái Rơm.
Nguy hiểm nhất là doi đất bồi nơi cất giấu Cột mốc số Ba – nơi mấy bữa trước ông Khiêm đã dùng dây gai tẩm dầu dóng góc thẳng hàng từ gốc bần sang cội đa cổ thụ. Dòng nước xoáy cuộn tròn như một cái phễu khổng lồ, điên cuồng khoét ngoạm vào chân doi đất, từng tảng đất thịt to bằng cái thúng sụp ầm ầm xuống lòng sông sâu. Tầng đất sét xanh dẻo quánh giữ chân mốc ranh Canh Ngọ đang đứng trước bờ vực bị dòng thủy thần chuồi phăng ra giữa lòng Sa Giang mênh mông.
"Bác Bảy ơi! Nước tràn bờ rồi! Doi đất sạt lở dữ quá!"
Tiếng Sáu Thuyền hét lớn át cả tiếng sóng vỗ bì bọp. Anh cùng mấy trai tráng thợ hồ Tân Quy Đông đang lội bì bõm dưới làn nước ngập ngang đầu gối, mặt mày tái mét nhìn từng mảng đất sụt lở trôi tuột.
Trên gò đất cao ráo rậm rạp cỏ chỉ, ông Khiêm nén cơn đau buốt ở bả vai trái vừa mới kéo da non. Một tay ông chống chặt cây gậy tre đực xuống nền đất nhão để giữ cho thân hình cao gầy khỏi ngả nghiêng trước những cơn gió lộng, chòm râu bạc bay phần phật trong màn mưa bụi mịt mù. Đôi mắt già nua của người thợ đúc đá mài trăm tuổi quắc lên vẻ tinh anh, dạn dày kinh nghiệm bách nghệ sông nước. Ông giơ cao cánh tay phải, cất giọng sang sảng chỉ huy "Chớ có hoảng loạn! Mau vác tre đực ra! Sáu Thuyền, con dẫn mấy đứa chia làm hai cánh, đóng cọc theo hình nan quạt chắn ngang miệng túi nước xoáy! Đóng xiên bốn lăm độ ngược dòng chảy, đừng đóng thẳng góc mà gãy cọc!"
"Dạ! Tụi con nghe lời Bác Bảy!"
Sáu Thuyền gầm lên một tiếng rổn rảng, quệt ngang dòng nước mưa chan hòa trên mặt. Bắp tay trần cuồn cuộn của người chèo đò dọc lập tức ghì chặt lấy một thân tre già đã vót nhọn đầu. Hai anh thợ hồ lực lưỡng vung vồ gỗ mun nện chan chát xuống đuôi cọc.
"Một, hai, ba… Nện!"
Tiếng hò dô chen lẫn tiếng búa đập cọc vang dội một góc trời. Ông Khiêm đứng trên mố đất, ánh mắt dõi sát từng chuyển động của dòng nước xiết. Từng con nước lớn ròng của sông Tiền đã ngấm vào máu thịt ông suốt một thế kỷ qua; ông biết rõ thế nước khi chạm phải vật cản sẽ uốn lượn ra sao, lực xói mòn chuyển hướng thế nào "Sáu Thuyền! Đóng dồn thêm ba cây tre đực kẹp đôi mé hữu ngạn! Chèn liền rơm khô với bao cát xuống chân cọc! Chắn giảm dòng nước lại, chia nhỏ dòng xoáy ra hai bên, hổng cho nó dồn lực khoét sâu vô vách sét xanh!"
Nghe tiếng lệnh đanh thép của cụ già trăm tuổi, dân xóm phà như tìm được rường cột chống đỡ tinh thần. Hơn hai mươi thanh niên trai tráng m*nh tr*n trùng trục, dầm mưa lạnh ngắt, thoăn thoắt vác từng bao tải cát mịn dằn kín chân hàng cọc tre. Bùn lầy quện chặt lấy chân, nước sông lạnh buốt tạt vào mặt rát rạt, nhưng không một ai chịu lùi bước. Hàng cọc tre ken dày hình nan quạt dần dần định hình, kiên cường đứng sững giữa làn sóng dữ, bẻ gãy mũi dùi nhọn hoắt của vòng xoáy xoay tít, khiến dòng nước lũ bị tẽ sang hai bờ thoai thoải.Bên trên triền gò cao ráo, nơi khoảng sân đất trước cửa túp lều rách, một quang cảnh ấm áp khác đang bừng lên xua đi cái lạnh tái tê của đêm triều cường. Thím Ba Đực cùng mấy chị em phụ nữ xóm Cái Rơm đã gom mớ gốc đước khô, củi gòn mục chất thành mấy đống lửa lớn. Ngọn lửa bập bùng reo vui, tỏa ra hơi ấm nồng đượm và mùi khói cay nồng thân thuộc. Trên chiếc kiềng sắt ba chân gỉ sét, một nồi cháo hoa lớn đang sôi sùng sục, mùi gạo mới thơm lừng quyện với hành hoa và tiêu cay ngào ngạt phả ra nghi ngút.
Bà Lài lưng còng rạp, mái tóc bạc phơ bay lòa xòa trước trán, hai bàn tay khẳng khiu run rẩy bưng từng chiếc chén sành múc đầy cháo nóng. Từ mé gò đất, ông Khiêm chốc chốc lại ngoái nhìn về phía đống lửa, thấy bà Lài lưng còng rạp đang ngóng ra mé sông cuồn cuộn, một tay bà vịn chặt chiếc bàn gỗ, tay kia ôm lấy ngực dằn từng cơn ho hen suyễn dồn dập.
Bà Lài run rẩy bước lại mé bờ dốc, trao chiếc chén sành còn bốc khói nghi ngút cho thím Ba Đực mang xuống bãi bùn, rồi ghé lại gần ông Khiêm. Ngón tay gầy guộc của bà rụt rè nắm lấy vạt áo bà ba ướt đẫm sương đêm của ông, giọng thều thào ngập tràn lo âu "Anh… anh Khiêm ơi! Gió bấc thổi lạnh thấu xương rồi đa… Vết thương bả vai anh bữa hổm chưa lành hẳn, anh uống hớp cháo nóng cho ấm tỳ vị rồi vô lều nghỉ chút đi anh… Ngoài này để thằng Sáu với xóm giềng lo liệu…"
Nghe tiếng gọi “anh Khiêm” vừa nghẹn ngào vừa thân thương từ người bạn đời hoa niên sau bảy mươi sáu năm dâu bể, lồng ngực già nua của ông Khiêm dâng lên một dòng cảm xúc ấm sực, xua tan đi sự buốt giá của gió mưa. Ông quay đầu lại, mỉm cười hiền từ, ánh mắt chan chứa sự dịu dàng vô bờ bến. Bàn tay thô ráp chai sần vệt vôi hồ của ông khẽ khàng đặt lên mu bàn tay lạnh ngắt của bà, siết nhẹ như một lời trấn an vững chắc "Cô Lài đừng lo. Tôi khỏe re mà, nhằm nhò gì chút gió sương sông nước này. Tôi phải đứng đây canh chừng cho thằng Sáu, giữ cho được tấc đất này. Đất còn thì chòi của cô còn, bến phà của bà con mình mới còn. Cô vô ngồi gần đống lửa cho ấm ngực, đừng để trúng gió độc mà trở cơn ho hen nghen."
Bà Lài nhìn ông, ánh mắt rưng rưng gật đầu, nhưng bước chân không nỡ rời xa, cứ nấn ná đứng bên mố đất tiếp lửa, tiếp cháo cho từng lượt người thợ mệt lả từ dưới mé rạch bò lên. Từng chén cháo hoa ấm nóng, từng củ khoai mì nướng thơm lùi tro than được chuyền tay nhau trong đêm đen tăm tối, thắt chặt tình làng nghĩa xóm bình dị nơi bến sông nghèo trước tai ương bão bùng.
Đêm trắng trôi qua dài dằng dặc trong tiếng gõ mõ, tiếng dầm khua nước và tiếng hò dô chống xói lở kiên cường.
Khi tiếng gà gáy le te đầu tiên cất lên từ xóm vườn Tân Quy Đông, ngọn gió chướng bắt đầu đổi chiều nhẹ hạt. Bầu trời phương Đông ửng lên một vệt sáng mờ nhạt như lòng trắng trứng gà. Trận triều cường hung hãn sau bao canh giờ gầm rú cũng bắt đầu kiệt sức, con nước kém rút nhanh dần theo quy luật sông nước miệt Tiền Giang, để lại một bãi bồi nham nhở ngập ngụa phù sa non và rác rưởi trôi giạt. Hàng cọc tre đực be bờ của ông Khiêm đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh lịch sử của nó: doi đất thịt vẫn kiên cường bám trụ, không một tấc đất sét xanh nào bị dòng nước cuốn trôi.
Mọi người thở phào nhẹ nhõm, mệt nhoài ngồi bệt xuống những bao cát ướt sũng. Nhưng ngay giữa lúc dòng nước rút sát đáy mé rạch, bỗng một tiếng sụp đất trầm đục rền vang "Ầm… rộp!"
Cả một mảng phù sa mặt bờ rạch bỗng nứt toác rồi sạt tuột xuống mé nước ròng kiệt. Đất chuồi đi tới đâu, bùn nhão trôi tuột tới đó, để lộ ra một góc móng đá mài nhẵn thín, xám xịt màu bột vỏ sò và cát mịn, ẩn sâu dưới lớp đất sét xanh dẻo quánh từ sáu mươi bốn năm về trước.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
