Chương 5: Nghiệm Bột Độc Dưới Lòng Đất
Gió sông Cả lùa từng cơn lạnh buốt vào con đường đất đỏ dẫn về xóm lò Cổ Lũy. Cụ Hoa Thiệu Hùng rảo bước điềm đạm, tiếng gậy tre già gõ nhịp đều đặn trên mặt đất nện. Phía sau lưng cụ, Trọng Lạc vẫn ôm khư khư bọc khăn vải chàm trước ngực, hai khớp hàm nghiến chặt ken két, hơi thở phì phò ấm ức.
— Ông ơi, thằng cha Bá hộ Thụ với lão Đinh Cửu ép người quá đáng! Ba mươi quan tiền… lấy đâu ra ngần ấy để đền nếu ba ngày nữa không tóm được kẻ gian? Lại còn bắt ông phải quỳ tạ tội trước sân đình!
Cụ Hùng không ngoái đầu, giọng trầm tĩnh như ngọn lửa ủ trong vòm lò kín — Nóng nảy chỉ làm mờ mắt, lú tâm. Lửa giận không nung thành gốm tốt, chỉ thiêu rụi đồ sành mà thôi. Mau về xưởng, sự thật nằm cả trong bọc vải con đang ôm đấy.
Hai ông cháu bước qua cổng rào tre, vào thẳng gian chái bên cạnh vòm lò bầu rêu phong. Không gian quen thuộc đượm nồng mùi bùn phù sa ủ men và tro rơm nếp giúp lòng người lắng lại. Cụ Hùng tháo chiếc bầu rượu gốm nhỏ bên hông đặt lên chiếc chõng tre, đoạn khẽ gật đầu ra hiệu.
Trọng Lạc vội vã đặt bọc khăn chàm lên chiếc bàn chuốt gỗ lim, cẩn thận gỡ từng mối nút thắt. Mấy mảnh sành vỡ đêm qua lộ ra dưới ánh sáng ban ngày trông càng quái dị. Lớp men da chuối vàng óng tổ truyền bị tróc lở từng mảng, lộ ra phần cốt đất bên dưới ngả sang sắc đỏ xỉn và đen cháy như bị nướng ép trong than hồng. Đặc biệt, quanh gờ mép vỡ còn bám dính một lớp bột trắng ngà, khô ráp và kết vảy li ti.
Cụ Hùng với lấy chiếc que tre già trên giá gốm, khẽ cạo một lớp bột trắng đọng ở rãnh rạn, gom lại trên một chiếc đĩa sành mộc chưa tráng men. Cụ dùng chiếc chày gỗ nhỏ nghiền nhe nhẹ. Từng hạt bột vỡ vụn, tỏa ra một làn mùi hăng hăng khen khét xộc thẳng vào mũi khiến Trọng Lạc phải hắt hơi liền hai tiếng.
— Thứ bột này… ngửi vừa nồng vừa ngột ngạt lồng ngực, không giống tro rơm hay đất bãi chút nào ông ạ!
Cụ Hùng chăm chú quan sát sắc bột mịn dưới mí mắt kèm nhèm nhưng tinh tường — Đây là vật tạo nhiệt hại gốm, chẳng dính dáng gì đến thần thánh quở phạt. Lạc, múc cho ông một gáo nước phù sa sông Cả trong chiếc chậu sành góc tường lại đây.
Trọng Lạc nhanh nhẹn bưng chậu nước sông Cả sóng sánh phù sa đỏ au đặt lên bàn chuốt. Nước sông vừa múc sáng nay lạnh ngắt như nước đá, mặt nước phẳng lặng soi bóng mái gianh xơ xác.
Cụ Hùng hít một hơi sâu, nghiêng mép đĩa sành, trút toàn bộ nắm bột trắng vừa nghiền mịn vào lòng chậu nước.
“Xèo… xèo… ùng ục!”
Một tiếng rít chói tai tức thì bùng lên từ đáy chậu. Mặt nước phù sa đang phẳng lặng bỗng sôi réo dữ dội, bọt trắng sủi cuồn cuộn thành từng cụm bong bóng lớn vỡ toang toác. Một luồng khói xanh lờ lờ nhợt nhạt mang mùi hăng nồng cay xè xộc thẳng lên nóc chái nhà. Hơi nóng hầm hập tỏa ra rát rạt cả da mặt khiến Trọng Lạc giật thót mình lùi lại nửa bước, mắt tròn xoe kinh hãi — Trời đất ơi! Nước… nước lạnh ngắt mà tự sôi réo lên bốc khói xanh y hệt dưới huyệt mộ đêm qua!Cụ Hùng đặt bàn tay chai sần áp vào thành ngoài chiếc chậu sành. Nhiệt lượng từ nước nóng rẫy truyền qua lớp sành dày khiến lòng bàn tay cụ nóng rực. Cụ gật đầu, ánh mắt đanh lại — Quả nhiên không ngoài dự đoán của lão già này. Con nhìn cho kỹ, đây chính là đá vôi sống được nung chín rực trong lò rồi đem nghiền nhỏ mịn như bột cám. Kẻ gian đã trộn thêm bột phèn chua và lưu huỳnh vàng để tăng độ xót và tạo khói xanh ma quái. Vôi sống gặp hơi ẩm lạnh giá của đất thịt mùa đông lập tức tôi nhiệt dữ dội. Nhiệt độ bốc lên ngùn ngụt ngậm trong lòng huyệt kín làm hũ tiểu sành bị hun ép đột ngột, cốt đất giãn nở không đều nên nứt toác tanh tách. Gió đông lùa qua khe nứt ấy tạo ra tiếng rít u u ai oán, khiến người yếu bóng vía tưởng là ma hờn quỷ khóc!
Trọng Lạc vung nắm đấm xuống mép bàn chuốt, giận run người — Khốn nạn thật! Chúng dám dùng trò bẩn thỉu này dưới nơi an nghỉ của người đã khuất để dọa dẫm bà con!
— Chú Lạc nói chí phải! Thật là quân tán tận lương tâm!
Một tiếng nói dõng dạc vang lên từ cửa chái. Đỗ Văn Bản tay lăm lăm cây côn sắt tuần đinh, khẽ lách mình qua liếp cửa bước vào. Anh tuần đinh trưởng đưa mắt nhìn quanh vẻ cảnh giác, rồi bước nhanh tới bên chiếc chậu sành vẫn còn bốc khói cay cay — Con vừa cắt đuôi mấy tên chỉ điểm của lão Lý Cửu ngoài đầu ngõ. Nghe tiếng cụ ở sân đình, con nể phục quá nên chạy vội sang đây xem cụ nghiệm xét ra sao.
Cụ Hùng chỉ vào lớp cặn trắng nham nhở dưới đáy chậu nước — Chú Bản nhìn xem, đây là tang chứng rành rành. Đất cát gò Mã Vôi không sinh ra thứ quỷ quái này, chỉ có bàn tay con người rắp tâm chôn vùi xuống đáy huyệt trước giờ hạ tiểu mà thôi.
Đỗ Văn Bản cúi xuống ngửi mùi khét, ánh mắt tinh anh chợt lóe lên tia nhìn sắc bén — Đá vôi sống nung chín kỹ, lại nghiền mịn đến mức này… Làng Cổ Lũy ta xưa nay chỉ chuyên nghề đất sét và gốm nung, người dân đào đâu ra vôi sống số lượng lớn như vậy? Muốn rải đủ lượng để nung nứt cả ba hũ tiểu sâu bốn thước, kẻ thủ ác phải có cả gánh vôi tươi, nguồn cung đá vôi sống phải vô cùng dồi dào. Chưa kể, kẻ rải bột phải rành rẽ từng giờ giấc sang cát, am hiểu ngóc ngách gò Mã Vôi như lòng bàn tay mới lén lút qua mặt được tuần đinh tuần phòng ban đêm.
Cụ Hùng khẽ vuốt chòm râu cước, giọng trầm ngâm — Chú Bản nói trúng chỗ hiểm. Mối hại này bắt rễ từ nguồn đá vôi, mà đất này ai là kẻ nắm trọn đường vôi đá?
Đúng lúc ấy, một luồng gió đông bỗng thốc mạnh từ mé sông Cả tạt qua khe cửa liếp gian chái. Trong luồng gió bấc lạnh buốt, một mùi khói nồng khét lẹt đặc sệt mùi đá vôi nung quen thuộc xộc tới nồng nặc. Cả ba người đồng loạt đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ hướng về phía bến Than hoang tàn cuối dòng sông, nơi những chiếc thuyền buôn vôi chở nặng của Bá hộ Đặng Khắc Thụ đang neo đậu xám xịt trong làn sương mù.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
