Chương 20: Vạt Tơi Bình Yên

Sau một đêm thung lũng Tiêu Nham rực rỡ ánh lửa mừng công, sương mù tím đặc quánh bao phủ Hoang Lôi Cương suốt trăm năm qua đã lùi dần trước bình minh. Nắng sớm rải những vạt vàng ấm áp lên từng mái lán của xóm Lạc Lôi, soi rõ những phiến đá xám vừa vượt qua giông bão. Không còn mùi khét lẹt của lôi hỏa thiêu đốt, bầu không khí thoang thoảng hương cỏ phơi sương và mùi khói bếp ngọt lành.

Bùi Cảnh Diễn thức dậy từ sớm, bước ra khoảng sân nhỏ trước hiên chòi. Sinh cơ Trúc Cơ dồi dào chảy tràn trong kinh mạch thông suốt giúp bước chân lão nhẹ bẫng, sống lưng thẳng tắp như thân gỗ lim. Mái tóc và chòm râu bạc phơ bốn mươi năm qua nay đã hóa đen một nửa, gương mặt quật cường đượm vẻ an định. Thọ nguyên tăng thêm hai trăm năm mang lại cho lão nguồn sinh lực sung mãn.

Phía lối vào thung lũng, tiếng cười nói rộn rã vang lên từ sớm. Từng đoàn phu mỏ gùi quặng Hắc Thiết thong dong bước về bãi đá lớn chuẩn bị cho ngày hội đổi quặng tự do đầu tiên. Những chiếc vòng sắt định danh nô dịch đã biến mất hoàn toàn. Bản cam kết ba điều do Tiên Minh ký nhận đã có hiệu lực: Huyết Hồn Khế vĩnh viễn hóa thành tro bụi, thuế lôi kiếp bị xóa bỏ, chín miệng hầm mỏ tháo niêm phong để bà con làm chủ sức lao động. Cựu Chấp pháp trưởng lão Thẩm Đoạt bị tước chức vụ, tống giam vào ngục đá sâu; hàng ngàn bộ lôi giáp Tử Tiêu giá cắt cổ nay nằm phủ bụi ế ẩm. Còn kẻ phản bội Đặng Quý đã lầm lũi ôm cánh tay tàn tật rời khỏi Hoang Lôi Cương trong sự khinh bỉ của muôn dân.

Tại bãi đất trống rợp bóng cây gai đá giữa xóm, phường bện tơi Lạc Lôi đã chính thức thành lập. Dưới sự dẫn dắt của Liễu Nương và Trương Tam, hàng trăm tản tu quanh vùng lũ lượt kéo về học nghề.

Trương Tam chống nạng gỗ đứng bên đống cọc sắt Hắc Thiết mới trui rèn, giơ cao thanh cọc năm thước sáng loáng, cất giọng sang sảng “Bà con nghe cho kỹ! Cọc sắt phải rèn đủ năm thước bằng sắt ròng. Khi cắm xuống đất ẩm ngậm quặng, nhất định phải đóng sâu đúng ba thước, để hai thước nhô lên nối với sợi đồng trong áo tơi. Đất mẹ bao dung sẽ nuốt trọn sấm trời!”

Cách đó vài trượng, Liễu Nương thoăn thoắt tước từng bẹ gai đá, tỉ mỉ chỉ dẫn “Lớp ngoài cùng phải đan đủ tám mươi mốt bó cỏ Dẫn Lôi già ngâm phèn chua xếp tầng vảy cá để đón sét; lớp giữa lót bẹ gai miết tro trấu cản nhiệt; lớp trong cùng mới bện sợi đồng. Cứ theo đúng khẩu quyết của Bùi đại ca mà làm. Phường bện tơi mở cửa dạy không lấy nửa mảnh toái linh, ai học được cứ truyền lại cho người khác!”

Nhìn cảnh tượng hăng say ấy, khóe mắt Bùi Cảnh Diễn khẽ cay cay. Đạo của cỏ rác cốt ở sự đùm bọc, tương trợ giữa chốn trần thế lầm than.

“A Sơ, vào đây với lão già này một lát.” – Lão Bùi cất tiếng gọi ấm áp.

A Sơ đang phụ khiêng đống rễ cỏ già, nghe tiếng liền đặt cỏ xuống, xoa hai bàn tay vào vạt áo rồi chạy nhanh vào chòi “Bùi gia, người gọi con?”

Bùi Cảnh Diễn mỉm cười nhìn người đệ tử mười sáu tuổi. Thiếu niên gầy guộc ngày nào liều mình leo vách Đoạn Hồn hái cỏ cứu muội muội nay đã vạm vỡ, chững chạc; ánh mắt sáng ngời ý chí kiên định của người thợ mỏ dày dạn gió sương.

Lão Bùi bước đến chiếc bàn gỗ mộc mạc, nâng cuốn chép tay Tiếp Địa Thiên Thư bìa da ố vàng, rồi chậm rãi tháo con dao róc cỏ cùn mòn vẹt quấn sợi đồng đỏ bên hông ra. v**t v* chuôi dao bóng nhẵn suốt bốn mươi năm ròng, lão trang trọng đặt cả hai vật phẩm lên đôi tay thô ráp của A Sơ.

“Bùi gia... vật này...” – A Sơ ngỡ ngàng, hai tay run run.

Lão Bùi giữ chặt lấy tay cậu, giọng nói trầm hùng:“Con cầm lấy. Cuốn Tiếp Địa Thiên Thư này ghi trọn bốn mươi năm tìm tòi của ta, đổi bằng máu và mồ hôi của tản tu nơi lôi vực. Còn con dao róc cỏ này theo ta từ thuở tóc còn xanh, lưỡi dao tuy cùn nhưng chưa từng róc gãy một cọng cỏ ngay thẳng. Nay ta đã Trúc Cơ, gánh nặng giữ gìn và truyền dạy kỹ nghệ bện tơi, ta giao trọn lại cho con. Từ nay, con chính là thợ cả của xóm Lạc Lôi.”

Đôi mắt A Sơ đỏ hoe, nước mắt trào ra nơi khóe mi. Cậu hiểu sức nặng ngàn cân của kỷ vật: đó không chỉ là nghề mưu sinh, mà là tấm khiên che chở sinh mạng cho hàng vạn phàm nhân cùng khổ, là ngọn cờ bất khuất của những người áo vải.

A Sơ quỳ sụp xuống nền đá, hai tay nâng cao cuốn sách và con dao quấn sợi đồng, dập đầu ba lạy “Sư phụ! Đệ tử xin ghi lòng tạc dạ lời dạy của người! Đời này kiếp này, con thề giữ trọn cốt cách phàm nhân, đem đạo cỏ rác che chở cho bà con, quyết không để ai phải quỳ lạy trước xiềng xích nô dịch!”

“Tốt lắm! Đứng lên đi con!” – Bùi Cảnh Diễn đỡ đệ tử dậy, lòng ngập tràn niềm hân hoan thanh thản.

Đúng lúc ấy, tiếng bước chân sáo rộn rã ngoài hiên vang lên. Bé Nụ tròn mười tuổi, mặc chiếc áo vải hoa mới tinh, gương mặt hồng hào rạng rỡ, đôi tay trắng trẻo lành lặn không còn sót lại chút dấu vết nào của lôi độc năm xưa. Trên tay cô bé là chiếc khay gỗ nhỏ, bưng ba bát nước chè rừng nghi ngút khói thơm.

“Bùi gia! Ca ca! Hai người uống nước chè cho ấm giọng đi ạ!” – Bé Nụ nũng nịu cười, đặt khay xuống bàn. Bên hông cô bé giắt một cọng cỏ Dẫn Lôi nhỏ xíu được uốn nắn khéo léo thành hình vảy cá xinh xắn.

A Sơ lau vội giọt nước mắt trên má, nhìn muội muội bật cười “Con bé này, đã học đòi giắt cỏ bên hông rồi đấy à?”

Bé Nụ chu môi, giọng giòn tan “Dì Liễu Nương vừa dạy muội bện cọng cỏ đầu tiên đấy nhé! Mai sau muội cũng bện áo tơi giúp bà con, không thèm sợ sấm trời nữa đâu!”

Tiếng cười rộ lên ấm áp. Bùi Cảnh Diễn khẽ vuốt mái tóc tơ của bé Nụ, nhận lấy bát chè xanh bốc khói, cảm nhận hơi ấm lan tỏa vào tận đáy tim.

Ráng chiều buông xuống thung lũng Tiêu Nham. Mặt trời lặn nhuộm cả Hoang Lôi Cương trong sắc vàng cam ấm áp, rực rỡ và khoáng đạt. Khắp các bãi đá, hàng trăm vạt tơi cỏ bện ba lớp mới hoàn thành được phơi dài thẳng tắp, sợi cỏ óng ánh sắc thép phản chiếu ánh tà dương như những tấm giáp vàng bảo bọc xóm trại.

Bùi Cảnh Diễn bước ra chiếc chõng tre bên hiên, an nhiên ngồi xếp bằng, nhấp từng ngụm chè xanh chát nhẹ mà ngọt hậu. Ngoài sân, A Sơ cùng Liễu Nương đang dỡ những mẻ cỏ ngâm phèn phơi khô, tiếng lũ trẻ nô đùa ríu rít quanh đống cỏ dậy lên vang lừng. Khói bếp từ hàng ngàn căn chòi bốc lên nghi ngút quyện vào mây chiều.

Xa xa nơi chân trời, một tiếng sấm rền trầm đục khẽ dội qua tầng không. Nhưng tiếng sấm già ấy giờ đây chẳng còn làm ai giật mình hay sợ hãi. Lũ trẻ vẫn vô tư cười đùa, những người thợ vẫn vững vàng đôi tay bện cỏ, và trên lưng họ, vạt tơi cỏ bện hiên ngang che chở cả cuộc đời tự do.

Lão Bùi mỉm cười, mắt dõi theo ráng chiều vô tận, lòng nhẹ tênh như làn mây trắng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.