Chương 20: Đối Chất Dưới Đáy Vực
Lời phán của Louis Mercier vang lên đanh gọn cắt ngang bầu không khí căng thẳng trên sân ga mỏ. Viên thanh tra không cho viên chủ mỏ kịp giở thêm trò quanh co nào nữa; ông ta quắc mắt ra hiệu cho hai tên lính Pháp mang súng trường theo sau, rồi sải bước tiến thẳng về phía cửa giếng tời trục đứng.
Paul Renard run rẩy lau mồ hôi đang rịn ra đầm đìa trên trán, chiếc mũ cátkét thuộc địa xộc xệch nghiêng sang một bên. Hắn đưa mắt lấm lét nhìn hai trăm phu than đang vây kín xung quanh, đành cắn răng lê từng bước ủng da nặng trĩu bám theo sau.
Cụ Ba Trình khẽ gật đầu với c* Sắn và thầy giáo Sanh. Ba người sóng vai nhau dẫn đầu đoàn người, đĩnh đạc bước vào thùng tời sắt. Đám phu than lấm lem bụi tro tự động tản ra tạo thành hai hàng rào sống, ánh mắt hàng trăm con người rực lên niềm tin sắt đá hướng về bóng lưng gầy guộc của cụ già dắt cây thước gỗ nghiến bên hông. c* Sắn nắm chặt bàn tay quấn vải đã khô máu, ngẩng cao đầu như một người lính xung trận.
Dây cáp thép rít lên kèn kẹt. Thùng tời lao nhanh xuống lòng đất sâu hun hút, đưa cả đoàn người trượt dài vào bóng tối quen thuộc của tầng âm bốn mươi.
Mùi đá ẩm mốc cùng hơi khét nồng nặc của vỉa than vừa chịu chấn động mìn xộc thẳng vào mũi. Đáy hầm lò vẫn còn vương vất làn khói thuốc súng xám nhạt, nhưng không hề ngột ngạt như mọi bận. Luồng khí tươi mát rượi thổi từ ngách số 4 đang cuồn cuộn tràn qua đường lò chính, xua tan cái nóng hầm hập của lòng đất.
Mercier vừa bước chân ra khỏi thùng tời đã lập tức mở chốt chiếc hộp da, lấy áp kế chuẩn ra cầm trên tay. Cụ Ba Trình chỉ tay về phía ngã ba đường ray rỉ sét dẫn vào ngách than số 2 “Thưa ông thanh tra, xin mời ông bắt đầu từ ngách số 2. Nơi đây từng là cổ họng hút khí đối lưu tự nhiên trước khi bị người ta lấp kín.”
Mercier đặt chiếc áp kế bằng thép sáng loáng lên bệ gỗ chống lò còn nguyên vết cưa dở dang. Chiếc kim chỉ màu đen giật nảy hai nhịp rồi đứng yên tại một vạch số khắc chìm. Viên thanh tra rút chiếc nhiệt kế thủy ngân bọc đồng c*m v** kẽ nứt vách đá, chăm chú quan sát từng vạch chia rồi lật mở cuốn sổ tay bìa gai của Sanh.
Mắt Mercier mở to sau cặp kính tròn. Những dòng số ghi chép áp suất sụt giảm và nhiệt độ vách đá tăng vọt do Sanh nắn nót viết bằng mực tím trùng khớp hoàn toàn với chỉ số áp kế và nhiệt kế vừa đo, không sai lệch dù chỉ nửa ly.
Renard đứng nép sau lưng hai tên lính Pháp, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Hắn toan mở miệng thanh minh nhưng bị Mercier quắc mắt trừng trừng “Im lặng, ngài Renard! Số liệu không biết nói dối!”
Đoàn người tiếp tục rảo bước men theo đường ray hướng về ngách số 5 – nơi vừa trải qua vụ nổ mìn phá vỉa than lõi. Càng tiến sâu, dấu vết tàn phá càng hiện rõ mồn một. Khối đá than nứt toác đổ ngổn ngang, đất cát vương vãi khắp mặt nền. Mercier bước tới gần vách than chính, cúi rạp người soi đèn mỏ vào những lỗ khoan sâu hoắm đục dở dang vào lòng vỉa.
Khí ngầm bên trong các lỗ khoan vẫn còn đang xì ra từng luồng yếu ớt, làm chao đảo ngọn lửa đèn an toàn Davy mà cụ Ba Trình giơ lại gần. Chóp lửa bỗng chốc nhú lên một quầng xanh lơ ma quái. Mercier tái mặt, vội lùi lại một bước, giọng nghẹn lại “Khí mỏ… Nồng độ vẫn còn đọng lại trong kẽ nứt sâu! Chúng đang thoát ra từ vỉa antraxit!”
“Chưa hết đâu, thưa ông thanh tra,” cụ Ba Trình trầm giọng nói, đưa tay chỉ thẳng vào góc tối sát vách đá cát kết. “Mời ông xem chiếc van điều tiết gió chính.”Dưới ánh đèn lồng rọi thẳng, một khối van sắt to bản bị quấn chặt nhiều vòng xích sắt dày cộp hiện ra rành rành. Trên ổ khóa xích, miếng chì niêm phong dập nổi dòng chữ viết tắt của công ty than SFCT cùng ký hiệu riêng của Paul Renard vẫn còn nguyên vẹn, chưa hề bị cạy mở.
Mercier run run đưa tay sờ vào sợi xích sắt lạnh ngắt. Sự thật tr*n tr** đập thẳng vào mắt ông ta: van gió cứu mạng của hai trăm con người đã bị chính tay viên chủ mỏ khóa chặt bằng xích sắt để dồn toàn bộ khí nén cho máy khoan vỉa chính nhằm chạy đua sản lượng than xuất cảng.
Đúng lúc đó, một cơn gió biển lạnh buốt thổi lùa qua khe nứt ngách số 4 dội thẳng vào vòm lò ngách số 5, cuốn phăng quầng lửa xanh trên chóp đèn Davy, trả lại ngọn lửa vàng êm dịu, vững chãi.
Mercier ngước nhìn lên vòm trần đá cát kết nơi luồng gió tươi tràn tới. Ở đó, những thớ đá rạn nứt chằng chịt loang lổ vết bồ hóng, nhưng toàn bộ kết cấu vòm lò vẫn đứng vững, không hề xuất hiện hiện tượng sập đổ dây chuyền. Viên kỹ sư năm mươi tuổi bỗng chôn chân tại chỗ, bàn tay bám chặt vào vách lò run lên bần bật.
Trước mắt viên thanh tra dường như không còn là vỉa than Kế Bào, mà là ký ức địa ngục kinh hoàng năm xưa tại mỏ Courrières ở nước Pháp — nơi vụ nổ bụi than từng cướp đi người bạn thân của ông. Nhìn vẻ mặt thất thần cùng nỗi đau bóp nghẹt lồng ngực người đối diện, cụ Ba Trình hiểu rõ bóng ma quá khứ đang trỗi dậy trong lòng nhà khoa học.
Hiểu rõ tâm trạng dông bão của người đối diện, cụ Ba Trình thong thả rút cây thước thợ bằng gỗ nghiến giắt bên hông ra. Cụ bước tới bên vách đá nóc lò, nhẹ nhàng áp cạnh thước gỗ thẳng tắp vào gờ đá cát kết nối giữa ngách số 4 và ngách số 5.
“Thưa ông thanh tra,” cụ Ba Trình cất giọng trầm ấm, từ tốn mà vang vọng giữa vòm đá sâu thẳm. “Luồng khí gió trong lòng đất cũng giống như dòng nước trên mặt đồi. Khi con người bịt kín dòng chảy tự nhiên, áp lực sẽ tích tụ thành hiểm họa hủy diệt. Nhưng nếu biết dựa vào độ dốc của địa tầng để mở một lối thoát đúng hướng, đất trời sẽ tự cứu lấy con người.”
Cụ Ba dùng ngón tay chỉ vào sợi tơ tằm mảnh dẻ cột nơi đầu thước gỗ nghiến. Sợi tơ đang bay là là nghiêng đúng một góc hai mươi lăm độ theo hướng cửa giếng trời phụ thông lên sườn đồi hoang rậm dứa dại.
“Cây thước này không có chữ Tây, nhưng nó đo được nhịp thở của lòng đất. Góc nghiêng hai mươi lăm độ dẫn thẳng lên sườn đồi hoang chính là đường thoát hiểm của luồng khí tử thần. Nhờ chênh lệch áp suất giữa biển khơi và tầng âm bốn mươi, dòng gió mát đã kịp hút sạch túi khí độc trước khi nhát mìn của viên chủ mỏ kích nổ. Đó không phải phép màu, mà là bài học mộc mạc của thợ thuyền chúng tôi để giành giật lấy mạng sống.”
Từng lời của cụ già bản xứ vang lên bình thản mà sắc bén như một định lý bất biến. Thầy giáo Sanh dịch lại từng câu bằng giọng điệu trang trọng, mạch lạc.
Mercier đứng lặng đi. Đôi mắt thâm quầng của viên thanh tra nhìn đăm đăm vào cây thước gỗ nghiến mộc mạc bóng loáng mồ hôi, rồi nhìn sang gương mặt điềm tĩnh, đôi mắt sáng quắc như thấu suốt mọi quy luật cội nguồn của cụ già phu mỏ. Mọi định kiến bấy lâu về sự dốt nát, cam chịu của người lao động bản xứ hoàn toàn sụp đổ. Thay vào đó là một niềm khâm phục và kính trọng sâu sắc dâng tràn trong lòng nhà khoa học thực chứng.
“Tuyệt vời… Thật phi thường,” Mercier thì thầm bằng tiếng Pháp, giọng run rẩy xúc động. “Một giải pháp thông gió tự nhiên hoàn hảo đến mức mẫu mực!”
Bất thình lình, Mercier quay ngoắt người lại. Ánh mắt sau cặp kính tròn rực lên ngọn lửa thịnh nộ thiêu đốt, găm thẳng vào bản mặt cắt không còn hột máu của Paul Renard. Viên thanh tra bước dằn từng bước dứt khoát tới trước mặt viên chủ mỏ đang co rúm người lại, lạnh lùng rút tập biên bản cùng chiếc bút máy cài trên ngực áo ra kẹp vào chiếc cặp da đen.
“Tách!”
Chiếc khóa cặp da bằng đồng đóng sập lại một tiếng khô khốc, vang dội như một nhát búa công lý nện thẳng xuống đầu viên chủ mỏ thực dân, định đoạt số phận kẻ thủ ác ngay dưới đáy vực tăm tối.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
