Chương 1: Đêm Mưa Sông Linh Tuyền

Mưa như trút nước đập rầm rầm lên mái ngói rêu phong của Ty Điền Lược huyện Thanh Khê. Trong gian phòng nồng mùi giấy bổi và mực tàu mục cũ, ngọn đèn dầu trên án thư chao đảo theo từng cơn gió thốc qua khe cửa gỗ. Tiền Đình Thược buông ngòi bút lông xuống giá đồng, đôi tai trăm năm lắng nghe một âm thanh bất thường giữa tiếng sấm rền vang trời đất.

Tám mươi năm trông coi địa bạ ở công đường nhỏ này, từng khúc quanh của sông Linh Tuyền, từng gò đất hay bờ mương của mảnh đất Thanh Khê đều in hằn sâu sắc trong tâm trí lão lại một trăm mười hai tuổi. Mùa mưa lũ nào nước sông cũng gầm réo cuồn cuộn phù sa đỏ quạch, mang theo hơi đất nồng ấm quen thuộc. Nhưng đêm nay, âm thanh từ phía khúc đê giáp ranh dội lại không phải tiếng nước vỗ bờ tự nhiên. Đó là tiếng nước bị bẻ gãy, rít lên sàn sạt đầy vẻ gượng gạo, tựa như có một sức mạnh vô hình đang cưỡng ép dòng chảy đổi hướng giữa đêm đen.

Linh cảm bất an trỗi dậy cồn cào trong lồng ngực. Cụ Thược đứng dậy, bờ vai hơi còng vì ngót một đời cúi trên bản đồ đinh bạ bỗng thẳng lên vững chãi. Cụ với lấy chiếc áo tơi treo trên vách nứa, khép chặt vạt áo vải chàm mộc mạc, rồi thuần thục cài chiếc ống đồng dài bên thắt lưng. Trong ống đồng ấy, ngoài cây thước cuộn bằng dây đồng đã nhẵn bóng qua bao năm tháng đo đạc, còn có tấm Thẻ Ngà Kiểm Điền ngự tứ do chính tay tiên đế ban tặng từ tám mươi năm trước. Xách thêm chiếc đèn bão bọc khung sắt, cụ đẩy then cài cửa, bước thẳng vào màn mưa xối xả.

Gió bấc rít từng cơn buốt giá. Đôi chân già nua nhưng quen lội ruộng của cụ Thược bì bõm qua những vũng nước bùn dọc theo con đường mòn dẫn lên bờ đê. Thanh Khê về đêm chìm trong bóng tối dày đặc, chỉ có ánh chớp rạch ngang nền trời thỉnh thoảng soi rõ ranh giới hiểm yếu: bờ bắc là Linh Điền Trang bạt ngàn của hào tộc họ Cố, bờ nam là năm vạn mẫu dân điền nuôi sống hàng vạn miệng ăn của các xóm làng phàm nhân vô căn.

Khi bước l*n đ*nh đê cao, gió thốc mạnh khiến tà áo tơi phần phật bay. Cụ Thược che miệng đèn bão, nheo đôi mắt đục mờ nhưng tinh tường nhìn xuống dòng Linh Tuyền. Cảnh tượng dưới chân đê khiến ngực cụ thắt lại.

Dòng sông vốn chảy thẳng theo triền đá tự nhiên nay lại uốn cong một đường hiểm hóc về phía bờ nam, đâm thẳng mũi nhọn hung hãn vào chân đê của dân điền! Trên mặt nước cuộn sóng ngầu bọt, từng vệt sáng màu lam nhạt lập lòe trôi nổi như lân tinh ma quái. Một mùi nồng hắc, lạnh buốt thấu xương xộc thẳng vào cánh mũi — đó tuyệt đối không phải mùi bùn đất phù sa, mà là linh sát nồng nặc phát ra từ phế khí trận pháp của tu sĩ. Dòng nước mang sát khí độc hại ấy đang ầm ầm xô lệch cống ngăn, tràn thẳng vào hệ thống mương máng tưới tiêu của năm vạn mẫu ruộng phàm nhân.

Cụ Thược siết chặt quai đèn sắt, khớp ngón tay trắng bệch. Lúa vụ này của bà con đang độ ngậm sữa. Nếu để thứ linh sát buốt giá này ngâm rễ trong vài ngày, hoa màu chắc chắn thối rữa, lá úa rễ đen, cả vùng Thanh Khê sẽ đối mặt với cảnh trắng tay đói kém. Nhưng điều khiến cụ chấn động hơn cả chính là nguyên cớ: làm sao một dòng sông tự nhiên lại có thể tự ý bẻ cong dòng chảy chuẩn xác và tàn độc đến nhường này?

Cụ Thược không quay về ty. Cụ nép mình dưới tán cây rậm rạp cạnh đ**m canh đê, lặng lẽ che chắn ngọn đèn qua suốt canh ba rồi canh bốn. Đến lúc tảng sáng, mưa bão ngớt dần, chỉ còn lại những giọt mưa phùn bay lất phất trong làn sương sớm mờ ảo. Mực nước sông Linh Tuyền sau một đêm cuộn trào bắt đầu rút bớt, để lộ bãi bồi trơ trọi lớp phù sa đen sẫm.Trời vừa hưng hửng rạng, cụ Thược liền cẩn trọng lần bước xuống bờ dốc trơn trượt. Gạt đi lớp bùn lầy nhơ nhớp, cụ tháo ống đồng bên hông, rút ra cây thước cuộn bằng dây đồng cổ kính. Từng khớp đồng ken dày, từng vạch khắc chia tấc, chia thước trên mặt dây lóe lên ánh kim loại lạnh lẽo trầm mặc.

Cụ bước tới vị trí cọc mốc giới bằng gỗ lim cắm sâu bên mép nước — cọc mộc phân định ranh giới giữa dân điền và linh điền của Cố gia qua bao đời nay. Bằng kinh nghiệm tám mươi năm trắc lượng đinh bạ, chỉ cần ngước mắt đối chiếu với ba cây cổ thụ phía gò đất sau lưng và vị trí sao Bắc Đẩu vừa lặn lúc hừng đông, cụ Thược đã nhìn ra sự sai lệch rõ mười mươi.

Cụ cắm một đầu thước dây vào mỏm đá mốc chuẩn cố định từ thời lập huyện, tay thoăn thoắt kéo căng sợi dây đồng thẳng tắp dọc bờ sông. Từng tấc, từng thước lướt qua dưới ánh mắt nghiêm cẩn của lão lại già.

Đúng ba trượng hai thước!

Cọc mộc phân giới đã bị nhổ lên và dời dịch, lấn sâu về phía ngạch dân điền trọn vẹn ba trượng hai thước. Khoảng cách dời chuyển này vừa khéo hợp thức hóa khúc sông bị uốn cong, biến toàn bộ lòng dẫn nước mang linh sát độc hại nhập thẳng vào đất đai của dân nghèo, đồng thời cắt đứt đường dẫn nước ngọt tự nhiên nuôi sống mùa màng. Đây tuyệt đối không phải do đất sạt lở hay nước lũ cuốn trôi ngẫu nhiên. Dấu đất nén quanh gốc cọc lim còn mới nguyên, vết lún sâu phẳng lì dứt khoát chỉ có thể là bàn tay tu sĩ thi triển pháp thuật dời non chuyển đất trong đêm mưa gió.

“Ba trượng hai thước...” Cụ Thược lẩm bẩm, thanh âm trầm tĩnh nhưng đanh thép như đá tảng. Bàn tay chai sần vệt mực khẽ chạm vào chiếc ống đồng chứa Thẻ Ngà Kiểm Điền bên hông. Cụ hiểu rõ hơn ai hết, mỗi tấc đất bị lấn là một tấc mồ hôi nước mắt của trăm họ, và con số ba trượng hai thước này chính là chiếc bẫy đoạt mệnh tàn độc đang bổ xuống đầu năm vạn mẫu ruộng.

Đúng lúc ấy, từ phía con đường độc đạo dẫn lên mặt đê, tiếng vó ngựa dồn dập vang lên xé toang bầu không khí tĩnh mịch của sương sớm.

Một cỗ xe ngựa tráng lệ làm bằng gỗ đàn hương đỏ, mui xe chạm trổ mây lành cùng gia huy hình mây lửa của Cố thị lướt đi êm ru trên nền đất lầy lội, theo sau là hơn chục tên nha dịch huyện nha áo nẹp chỉnh tề, tay lăm lăm xích sắt và gậy gộc. Chiếc rèm gấm vén lên một góc, để lộ khuôn mặt quản sự Cố gia cùng viên đầu mục nha môn, ánh mắt bọn họ nhìn về phía cánh đồng ngập úng với vẻ toan tính lạnh lùng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.