Chương 1: Thanh Ray Lạnh Giữa Đêm Sương
Mũi búa kiểm âm bằng thép đập gọn ghẽ vào đầu bu lông nối ray, bật lên một tiếng “coong” đanh gọn, ngân dài giữa vòm đá tối đen. Hàn Văn Tiệp khẽ nghiêng đầu, đôi tai lão luyện năm mươi ba tuổi của người thợ tuần đường bắt lấy độ vang trong trẻo ấy như người nhạc công sành sỏi bắt trúng nốt đàn. Tiếng thép không gợn một vết rạn. Tà vẹt gỗ lim bên dưới vẫn ghì chặt lấy nền đá balat. Nhưng cái buốt giá của đêm đông mưa dầm cuối năm 1936 ở chốn đèo Heo Hút này dường như muốn đông cứng cả khớp chân trái tật nguyền của ông. Tiệp kéo sụp vành nón lá, bước khập khiễng thêm ba bước, ngọn lửa vàng xanh từ chiếc đèn khí đá bằng đồng soi rõ hai vệt thép lạnh ngắt hun hút chạy sâu vào lòng Hầm số 14.
Sáu trăm năm mươi thước tây đường hầm đục xuyên qua dải núi đá vôi sừng sững là một quãng đường đầy đọa đối với đôi chân thọt – vết tích sau tai nạn sập lò mười năm về trước. Không khí trong lòng núi lúc nào cũng nồng nặc mùi bùn tanh và rêu phong ẩm mục bám dày trên những phiến đá hộc. Từng giọt nước ngầm buốt giá từ kẽ nứt vòm cuốn tí tách rơi xuống mặt đá xám, nhịp rơi đều đặn như tiếng kim đồng hồ điểm từng khắc canh ba lạnh lẽo. Tuyến đường sắt xuyên Đông Dương vừa mới làm lễ khánh thành thông suốt cách đây ít lâu, nhưng với Tiệp, sự an nguy của từng chuyến tàu đêm số 4 chở hơn ba trăm phu phen, dân nghèo vẫn đè nặng lên chiếc búa kiểm âm cán lim mòn vẹt và ngọn đèn đất cầm tay này.
“Cắc… coong… Cắc… coong…”
Tiệp tiếp tục lê bước, nhịp búa kiểm tra gõ đều đặn xuống từng thanh ray, đinh cóc và bản cá kẹp. Ở những đoạn cua ngặt nghèo của đèo dốc, chỉ cần một con đinh cóc bị long hay một tấc ray rạn nứt do biến đổi thời tiết cũng đủ hất tung cả đoàn tàu xuống vực sâu thẳm. Bàn tay chai sần thô ráp của người thợ già miết nhẹ lên chuôi gỗ lim bóng nhẵn, cảm nhận từng độ rung cơ khí tinh vi truyền ngược về cánh tay. Mỗi tấc sắt thép nơi đây đều thấm mồ hôi, nước mắt và cả máu của những người phu mở đường thuở trước.
Khi ánh đèn vàng nhợt nhạt rọi tới khoảng giữa chiều dài lòng hầm, bước chân khập khiễng của Tiệp bỗng khựng lại. Gió núi rít qua miệng hầm sâu hun hút bỗng chốc lặng phắc, nhường chỗ cho một cảm giác ớn lạnh bò dọc sống lưng. Trước mặt ông, bức tường gạch vôi dày cộp xây bít kín cửa ngách hầm số 3 hiện ra mờ ảo dưới làn khói khí đá. Mười năm đã trôi qua kể từ ngày tai nạn sập hầm năm 1926 vùi lấp toàn bộ ngách phụ ấy, biến nơi đây thành nấm mồ chôn sống mười tám người thợ phu lam lũ. Bức tường gạch trát vôi trắng năm nào giờ đã hoen ố vệt nước rỉ đỏ quạch, loang lổ rêu xanh cằn cỗi và những đường nứt nẻ chân chim. Bàn tay trái của Tiệp theo thói quen vô thức đưa lên ngực áo tơi, nơi mảnh thép gãy từ cọc chống lò năm xưa vẫn cộm lên nhức nhối qua lớp vải thô ráp.
Tiệp hít sâu một luồng khí lạnh buốt, dằn lòng xua đi ký ức đau buồn, rồi vung chiếc búa kiểm âm gõ nhẹ vào thanh ray bên phải – đoạn ray nằm ngay trước bức tường gạch niêm phong.
“Bộp!”
Âm thanh bật ra không phải tiếng chuông ngân trong trẻo quen thuộc, mà là một tiếng kêu đục ngầu, nghẹn tắc lạ thường. Tiếng thép như bị bóp nghẹt giữa không trung, nghe trơ trẽn và rời rạc hệt như tiếng gõ vào một súc gỗ mục ngâm nước lâu ngày.
Tiệp giật mình thót lại. Ông vội đổi tay cầm đèn, hạ thấp thân mình rồi vung búa gõ thêm hai nhát dứt khoát vào bản cá nối ray.
“Bộp… bộp…”
Vẫn là âm thanh nghẹt đặc quái đản ấy. Một sự rỗng toác truyền qua cán búa gỗ lim khiến các khớp ngón tay Tiệp tê rần. Tiếng kêu ấy là lời cảnh báo nguy hiểm nhất đối với một người gác đường: thanh ray không còn gắn kết vững chãi với tà vẹt và nền đá dăm.
Không chần chừ một giây, Tiệp hạ gối trái, quỳ một chân lên lớp đá balat lởm chởm ướt đẫm nước rỉ. Ông đưa chiếc đèn khí đá sát xuống mặt thép. Ngọn lửa vàng xanh hắt bóng những con ốc sắt to bằng nắm tay lên mặt đá gồ ghề. Khi luồng sáng quét qua bản thép nối hai đầu ray, đồng tử mắt người thợ già co thắt dữ dội.Bốn chiếc bu lông thép chuyên dụng dùng để siết chặt bản cá kẹp hai đầu ray đã bị nới lỏng từ bao giờ!
Những vòng ren sắc lạnh lộ hẳn ra ngoài mặt đai ốc tới hai, ba khía. Một chiếc bu lông thậm chí đã lỏng đến mức đầu ren trồi hẳn ra ngoài, chực chờ rơi xuống đống đá dăm bên dưới. Tiệp run rẩy vươn những ngón tay gầy guộc, cáu đen bụi than miết thử vào con tán sắt. Chiếc bu lông xoay tròn nhẹ bẫng dưới lực đẩy khẽ của ngón tay ông!
Lông tơ trên gáy Tiệp dựng đứng cả dậy. Trong nghề tuần đường ròng rã mấy mươi năm, ông chưa từng chứng kiến sự việc quái gở đến dường này. Bu lông nối ray là loại thép tôi dày dặn, được siết chặt bằng chiếc chìa vặn cán dài nặng cả chục cân, mỗi vòng siết đều cần hai người phu lực lưỡng dùng hết tàn lực mới nhích được từng góc cạnh. Huống hồ, ca tuần đường chập choạng tối lúc giao ca, chính tay ông đã gõ kiểm tra cẩn thận từng mối nối ở đoạn hầm này, khi ấy mọi bu lông vẫn còn ăn khít, căng đét như dây đàn. Giờ mới chỉ vừa sang canh ba, làm sao những đai ốc thép kiên cố này lại có thể tự động nhả ren, nới lỏng hàng loạt một cách bí hiểm đến thế?
Gió lạnh từ đâu thốc tới khiến vạt áo tơi đệm xơ dừa của Tiệp lay lắt. Không có dấu vết của cờlê hay búa tạ của kẻ phá hoại; trên mặt thép lấm tấm hạt nước sương không hề có một vết xước mới của kim loại va đập. Những vòng ren như thể vừa được vặn mở bởi những ngón tay vô hình mềm mại và lặng lẽ giữa đêm khuya thanh vắng.
Tiệp toát mồ hôi hột dù cái lạnh buốt xương của lòng núi đá đang ngấm qua lớp áo tơi đệm xơ dừa sờn cũ. Ông vội vàng chống búa đứng dậy, toan quay người chạy ngược ra miệng hầm hướng Bắc để lấy cờlê chuyên dụng và chuẩn bị pháo hiệu chặn đường. Chuyến tàu đêm số 4 từ phương Nam chạy ra chở hơn ba trăm sinh mạng dân nghèo sẽ vượt qua đèo Heo Hút vào lúc rạng sáng. Nếu đầu máy hơi nước nặng hàng chục tấn lao qua mối nối rệu rã này với tốc độ cao, bánh sắt sẽ chém vỡ cá ray, hất tung đoàn toa xe vào vách đá ngầm.
Nhưng đúng khoảnh khắc Tiệp vừa nhấc bàn chân thọt lên khỏi mặt tà vẹt, một luồng khí lạnh buốt đột ngột từ chân bức tường ngách số 3 thốc thẳng ra.
Ngọn lửa xanh lét trên đầu béc đồng của chiếc đèn khí đá bỗng chao đảo dữ dội. Chiếc bình đồng phát ra tiếng xì xì ngắt quãng, muội than đen kịt bốc lên khét lẹt. Rồi chẳng kịp cho Tiệp đưa tay che chắn gió, ngọn lửa phụt tắt ngấm!
Bóng tối đen đặc, thăm thẳm như hũ nút chụp xuống đầu người thợ già trong chớp mắt. Lòng Hầm số 14 chìm vào cõi u minh câm lặng, chỉ còn lại tiếng giọt nước nhỏ đều đặn lên nền đá buốt giá và tiếng thở dồn dập của Tiệp trong lồng ngực gầy guộc.
Giữa sự tĩnh mịch trĩu nặng ấy, một âm thanh khô khốc, rờn rợn bỗng cất lên “Cắc…”
Tiếng kim loại gõ vào sắt. Tiếng gõ rất nhẹ, mong manh như tiếng kim rơi, nhưng lại sắc lạnh và rành rọt lạ lùng. Nó không phát ra từ đường ray dưới chân Tiệp, mà vọng ra từ sâu bên trong bức tường gạch vôi dày cộp của ngách cụt số 3 – nơi đã bị vùi lấp dưới hàng ngàn khối đất đá mười năm qua.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
