Chương 25: Trầm Mặc Ánh Ban Mai
Tiếng chuông đồng của đại lễ Tế Tiên ngân vang hồi cuối rồi lịm dần vào vách đá rặng Tử Tiêu. Hàng vạn tu sĩ từ từ ngẩng đầu dậy sau cái cúi mình kính cẩn. Không còn những tiếng hô hào uy phong, cũng chẳng còn dáng vẻ kiêu hãnh của những bậc tiên nhân từng coi thường trần thế. Họ nhìn lại khối Vạn Niên Trầm Thạch sừng sững cao chín thước, nơi từng dòng chữ công lý khắc sâu vào thớ đá vĩnh hằng, rồi lặng lẽ quay gót.
Từng dải kiếm quang lướt đi giữa tầng không, khuất dần sau làn mây khói. Đoàn người rời khỏi thung lũng trong nỗi trầm tư sâu sắc. Suốt hàng trăm năm, giới tu chân mải miết đuổi theo cảnh giới trường sinh, để rồi hôm nay nhận ra: trước lòng dạ tham tàn, quyền năng dời non lấp bể chỉ là lớp vỏ thảm hại. Một người thợ phàm trần với chiếc búa sắt năm cân và ngọn đục hàn thiết đã dựng lên một tượng đài công lý mà tiên gia muôn đời phải hổ thẹn ngước nhìn. Tiên Mộ Lăng dần trở về với vẻ tĩnh lặng ngàn đời vốn có, chỉ còn tiếng gió núi thổi qua những gò đá xám hoang sơ.
Dưới chân gò đá, hơn hai mươi đệ tử Thiết Huyết Chấp Pháp Đường khóa chặt xích sắt quanh người Lãnh Vô Nhai. Kẻ từng đứng đầu Tiên Minh giờ đây lưng còng rạp, mái tóc bạc phơ rũ rượi chấm đất, đan điền vỡ nát khiến y không còn nửa điểm linh lực hộ thể. Bước chân y xiêu vẹo giẫm lên sỏi đá sắc nhọn, miệng lẩm bẩm những lời mê sảng vô nghĩa. Tông chủ Hạo Thiên Kiếm Phái cùng Chưởng môn Huyền Chân Môn cẩn trọng thu hồi nửa bức Cửu Diệu Linh Đồ và huyết thư Chấp pháp mật lệnh, niêm phong bằng phù triện của chư phái để vĩnh viễn chấm dứt ba mươi năm tranh đoạt đẫm máu.
Khúc Dạ Hàn tra thanh trường đao Hắc Nha vào vỏ sắt. Vết thương nơi lồng ngực đã được băng bó, gương mặt góc cạnh của y bớt đi vẻ sắc lạnh đao phủ, thay bằng nét cương nghị, trầm tĩnh. Y siết chặt nửa mảnh ngọc bội gia truyền hình chim ưng lửa trong tay, rồi cất bước đến trước mặt Nhan Bá Thuần, hai tay chắp lại vái sâu: “Nhan tiên sinh, tạ ơn người đã điểm hóa. Bản tọa xin áp giải kẻ tội đồ về Vấn Đạo Điện để chư tông môn xét xử nghiêm minh trước thiên hạ. Từ nay về sau, Thiết Huyết Chấp Pháp Đường sẽ chỉ thuận theo lẽ phải, tuyệt không để bất kỳ kẻ lạm quyền nào vấy bẩn lưỡi đao công lý.”
Nhan Bá Thuần khẽ gật đầu, giọng trầm ấm: “Khúc thống lĩnh giữ được tấc lòng trong sạch giữa chốn gió tanh mưa máu, ấy là phúc phận của vạn người. Kẻ hèn này chỉ mượn đá ghi lại sự thật, còn việc giữ lòng ngay thẳng, cậy nhờ vào sự tỉnh thức của các vị.”
Khúc Dạ Hàn chắp tay từ tạ, rồi dứt khoát dẫn giải đoàn người rời đi. Bóng áo giáp đen dần khuất sau khúc quanh hẻm núi, trả lại sự yên ả cho thung lũng.
Tạ Thanh Vân đứng lặng trước nấm mồ Thẩm Dực vừa đắp xong dưới chân cự thạch. Thanh tàn kiếm Vị Tế cắm sâu trước mộ, thân kiếm loang lổ vết rỉ sét nay ánh lên tia sáng ấm áp dưới nắng sớm. Nàng quỳ xuống trên lớp sỏi lạnh, những ngón tay thanh mảnh chạm vào lớp đất đỏ còn tươi. Bao nhiêu cay đắng, uất nghẹn và nỗi oán hận đè nặng suốt những năm tháng trốn chạy bỗng chốc tan biến như làn sương mỏng gặp nắng mai.
Nàng nghiêng đầu, thì thầm trước nấm mồ ân sư: “Sư phụ, nỗi oan ba mươi năm đã được rửa sạch. Tàn kiếm này gắn bó với chí nguyện cả đời của người, con xin phép mang theo bên mình, thay người đi khắp thế gian hành hiệp trượng nghĩa, giữ trọn thanh danh cho Kiếm Tông.”
Nàng nhổ thanh kiếm gãy lên, tra vào bao da cũ khoác sau lưng, rồi bước tới trước mặt Nhan Bá Thuần, sụp gối vái tạ: “Nhan thúc! Nếu không có búa thép và tấm lòng kiên định của người, mối oan của sư phụ vĩnh viễn chìm trong bóng tối. Ân tình khai sáng này, vãn bối ngàn kiếp không quên.”
Nhan Bá Thuần vươn đôi bàn tay thô ráp đỡ nàng dậy, ánh mắt hiền từ: “Đứng lên đi, cô nương. Thù hận buông được xuống là giải thoát cho bản thân. Kiếm sắc hay cùn là ở tấc lòng người cầm kiếm, chứ chẳng nằm ở ba tấc mũi thép. Phía trước non xanh nước biếc, hãy đi bằng đôi chân tự tại của chính mình.”Tạ Thanh Vân mỉm cười qua giọt lệ, cúi đầu chào từ biệt Cố Tùng Đình rồi xoay người cất bước. Bóng dáng thiếu nữ áo xanh nhẹ nhàng lướt qua triền dốc, khuất dần vào con đường mòn ngập tràn ánh nắng ban mai.
Trên gò đá hoang sơ, chỉ còn lại hai bóng hình già nua. Cố Tùng Đình chống cây gậy trúc, con mắt lành bên phải nheo lại nhìn ngắm bia đá Vạn Niên Trầm Thạch một lần nữa. Chấp Pháp Lệnh Cổ đã nằm yên bên hông, không còn tỏa ra uy áp lạnh lẽo. Gánh nặng tội lỗi và mặc cảm hèn nhát suốt nửa giáp hoa qua như được rũ sạch hoàn toàn, khiến tấm lưng còng của lão dường như nhẹ nhõm hơn.
Lão bật cười khùng khục, giọng khàn khàn đượm vẻ an yên: “Lão Nhan à... Sống gần hai trăm tuổi trên đời, chưa bao giờ ta thấy lòng nhẹ bẫng như sớm nay. Giờ thì lão già này có thể thanh thản quét lá, coi sóc mồ mả mà không còn thẹn với lương tâm nữa rồi.”
Nhan Bá Thuần mỉm cười, vỗ nhẹ vai bạn già: “Ông bạn già đã vất vả ba mươi năm, nay cũng đến lúc an hưởng tuổi già. Về thôi, bếp lò đang đợi, ta đun ấm nước suối pha chén trà rừng.”
Hai người già thong thả sóng bước bên nhau. Tiếng gậy trúc lốc cốc gõ nhịp trên nền đá sỏi, hòa cùng tiếng gió vi vu của đại ngàn, vẽ nên bức tranh an hòa hiếm có giữa chốn từng vùi chôn vạn nắm xương tàn.
Trở về gian lều đá nhỏ nép mình dưới rặng thông già, Nhan Bá Thuần nhẹ nhàng đặt chiếc búa sắt nặng năm cân cùng ngọn đục hàn thiết đã mòn vẹt lên bậu cửa đá. Bàn tay ông lướt qua những vết lõm trên chuôi sắt đượm mồ hôi và bụi đá. Kẽ ngón trỏ bàn tay phải từng rách toạc rỉ máu nay đã se miệng đóng vảy, không còn buốt nhói.
Nhìn ngọn đục mòn, hình bóng người vợ hiền cùng đứa con thơ mất trong trận dư chấn tiên gia hai mươi năm trước thoáng hiện về nơi sâu thẳm tâm tưởng. Nhưng trong lòng ông lúc này không còn lửa hận, cũng chẳng còn vị đắng cay. Nhát đục cuối cùng trên phiến cự thạch đã hóa giải tất cả. Sinh tử có số, vinh nhục như mây trôi; sống trọn một kiếp người ngay thẳng, không thẹn với lòng, đó mới là chân đạo.
Nhan Bá Thuần gạt tàn tro đỏ, châm thêm cành củi khô vào bếp lò đất sét, bắc ấm nước suối pha chén trà rừng mộc mạc.
Hương trà thơm ngát lan tỏa khắp gian lều đơn sơ. Ông bưng chén gốm thô bước ra hiên lều, ngồi xuống tảng đá nhẵn bóng quen thuộc. Nâng chén trà nóng ngang mày, ông chậm rãi nhấp một ngụm, cảm nhận vị chát dịu nơi đầu lưỡi dần chuyển thành vị ngọt hậu thanh tao thấm sâu vào cuống họng.
Phía chân trời xa, vầng thái dương đỏ rực nhô lên khỏi rặng Tử Tiêu, xua tan màn sương xám lạnh lẽo. Những tia nắng mai vàng óng chan hòa khắp thung lũng, nhuộm sáng từng phiến đá và phủ lên mái tóc hoa râm của người thợ già nụ cười an nhiên. Tiếng búa đục đã ngưng, nhưng sự thật ngàn đời vẫn sáng soi cùng non nước. Nhan Bá Thuần hít một hơi dài thanh thản, đón trọn ánh ban mai rực rỡ của kiếp phàm trần an yên, tự tại giữa cõi nhân gian.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
