Chương 20: Tháng năm Dung Thành

Luôn ngỡ rằng, đô thị

được gọi là “Thiên phủ chi thành” (thành phố thiên đường) - Thành Đô rất xa xôi. Khi tôi đến đây, mới hay rằng, kỳ thực khoảng cách đó chẳng qua chỉ là một chặng non xanh nước biếc. Nơi đây còn được gọi là Dung

Thành, đó không phải mỹ nhân như hoa, xa tít tận tầng mây mù; cũng chẳng phải là trăng sáng mênh mang, rơi tận sâu đáy nước trong vắt. Mà là một vùng khói lửa dịu mềm, lãng đãng trong những đường ngõ thơ mộng, chảy

trôi trên đường Đàn Đài cổ kính, bao trùm trên những cầu mái xây mộng.

Thời gian của Thành Đô sẽ không quay cuồng ca múa, mà nó lặng lẽ đậu

trên từng cành cây, ngâm trong từng ly trà. Tôi là cô gái giản dị đó,

nhàn tản dạo bước ở Thành Đô, cùng Thành Đô đi một đoạn tháng năm thơm

nồng.

Đời người ngõ phố

Cắt một khoảng thời gian nhàn nhã, một mình, áo trắng phong trần, bước trong ngõ rộng, ngõ hẹp và ngõ

giếng[1] của Thành Đô, tựa như bước đi trong một hành lang dài thông

thẳng tới quá khứ. Trong ngõ không có sự nồng nhiệt như áo màu cưỡi

ngựa, mà có sự vui vẻ như hoa nở trên đường. Tháng năm đã chiếu những

chiếc bóng tối sáng khác nhau ở nơi này, đi dạo trong những con ngõ sâu

dài hun hút, tôi ngửi thấy mùi vị của thời gian, lắng nghe hơi thở của

ngày tháng. Ba con ngõ lát đá chứa đựng biết bao phong tục tập quán này

đã kết nối với muôn vàn linh hồn người Thành Đô. Trong đường đời như mây nước, sự tồn tại của nó là xiết bao tình sâu nghĩa nặng.

[1] Ngõ rộng, ngõ hẹp, ngõ giếng nằm trong Khu bảo tồn văn hóa lịch sử của thành phố Thành Đô.

(1) Ngõ rộng hẹp

Người ta nói thứ mà ngõ rộng hẹp chứng kiến chính là cuộc sống “nhàn tản” của Thành Đô xưa, cái mà nó tái hiện chính là ký ức của người hiện đại đối

với một thành thị. Mà ngõ rộng hẹp kể về cuộc sống “chậm rãi” của Thành

Đô xưa, cái nó phô bày chính là văn hóa sân nhà của Thành Đô. Khi tôi

giẫm chân lên ánh nắng mềm mại đi vào ngõ nhỏ, không khí nhàn tản và

nhịp điệu thong thả nơi này khiến tôi tưởng rằng năm tháng đã quên thay

đổi, câu chuyện vẫn còn dừng lại ở ngày hôm qua. Bất cứ cái quay người

hoặc ngoái nhìn nào đều khiến tôi lạc vào một hồi ức xa xôi nào đó của

Thành Đô xưa cũ. Tôi tin rằng, ngõ rộng hẹp chắc chắn là một áng thơ dân gian mà năm tháng cố tình để lại, khiến cho những người đã từng bỏ lỡ

và những người chưa từng gặp gỡ đều có thể có được sự thân thiết và tươi đẹp thanh thản này.

Trong ngõ không có đàn sáo huyên náo của thế giới phù hoa, mà là một khoảng khói bếp phố chợ bình dị. Tôi gần như có thể ngửi thấy hơi thở quen thuộc của phong tục dân tình đất Ba Thục từ

trong kẽ hở của con đường lát đá xanh này. Ngõ rộng, hẹp của Thành Đô,

tuy ở giữa chốn đô thị phồn hoa, nhưng vẫn giữa nguyên được kiến trúc

thời cuối Minh đầu Thanh. Ngói đen gạch xanh sạch sẽ, những cánh cửa, ô

cửa sổ kiểu cổ bằng gỗ, những hòn đá buộc ngựa bên mép tường cổ, những

quán trà già nua bên hè phố, cây ngô đồng rậm rì, những cảnh vật rõ ràng cổ kính ấy, cách sự ồn ào của thành thị một bức tường âm thanh, mà đã

thanh lọc hết thảy bụi bặm của trần thế thành trong sạch thanh tịnh. Mà

mộng xưa Ba Thục của nghìn năm trước, chỉ mất một sát na, là đã gặp gỡ ở thời nay.

Đi vào khách sạn Long Đường, đặt hành trang gọn nhẹ

của mình xuống, tôi liền cảm nhận được cảm giác vui sướng mà “thành phố

hạnh phúc nhất” này đem lại. Ở Thành Đô, có rất nhiều khách sạn đặc biệt nên thơ như thế này, níu chân biết bao giai khách gần xa đên từ khắp

trời nam đất bắc. Họ cũng giống như tôi, vội vã hối hả để đến với niềm

hạnh phúc thư thái của nơi đây. Đi trong ngõ rộng hẹp, ánh dương sáng

ngời lướt qua áo tôi, tựa như sẽ đem sức sống thanh xuân trên người tôi

truyền sang cho mỗi người. Còn tôi lại ngất ngây say đắm không khí phố

chợ nồng đậm nơi đây, từng quán trà gợi lại hết thảy hồi ức của các cụ

già, từng gương mặt cười thu hút tôi, khiến tôi muốn lập tức được chia

sẻ niềm vui của họ. Tôi tận tình “lượn lờ” qua hết mọi khung cảnh thảnh

thơi của ngõ nhỏ, cao đàm khoát luận với đủ mọi loại người, không cho

phép bản thân bỏ lỡ bất cứ cảm giác hạnh phúc nào.

Chọn một quán

trà ven đường để ngồi nghỉ, uống một ly trà ướp hoa phù dung. Nơi đây

hội tụ những người Thành Đô xưa và những người qua đường nhàn tản, hai

bên gặp gỡ chẳng hỏi nhau từ đâu đến, cũng chẳng hỏi bao giờ quay về.

Tôi mang theo tuổi trẻ và sự phồn hoa của thành thị, vô cớ xông vào con

ngõ cổ bình yên này, cùng họ tận hưởng sự yên tĩnh mà tháng ngày đem

lại, kể về những gió mây biến đổi ngày hôm qua của Thành Đô. Trên người

họ phảng phất một sự yên ả bẩm sinh, giữa chốn phố thị sương khói bao

trùm này, họ vẫn sống những ngày “tri túc thường lạc[2]”. Mùi vị của

trà, ngôn ngữ của nước, tôi hiểu được tâm ý của chúng. Có những duyên

phận chỉ cần một ly trà là đủ.

[2] Tri túc thường lạc: Biết đủ thì luôn vui, chỉ thái độ sống biết hài lòng với hiện tại và những gì đang có.

Tháng ngày trong ngõ nhỏ có thể tùy ý lãng phí, bất cứ một cách sống nào cũng không phải là sống hoài sống phí. Ngắm phong cảnh trong ngõ, bị lối

kiến trúc cô đọng, mộc mạc mà cổ kính dẫn vào câu chuyện của người khác. Nhàn nhã uống một ly trà là đã hết một buổi chiều. Trong thời gian chầm chậm trôi, cảm nhận được sự gấp gáp của đời người, nhưng vẫn yên tĩnh

một cách trầm lặng, nhàn rỗi. Dọc đường đi, có thể nhìn thấy những người già uống trà, túm tụm tán gẫu với nhau, những chú mèo lười biếng ngồi

dưới chân họ gật gù ngủ, thấy những cành lá xanh mướt mát bò lan trên

những bức tường có cánh cửa nửa đóng nửa mở, còn một đôi chim họa mi

treo trên cây ngô đồng. Khói lửa phố thị nguyên chất nguyên vị ấy khiến

người ta bước theo tiết tấu của người Thành Đô xưa, bị họ làm cho rung

động một cách sâu sắc.

Khoảng sân xanh rêu, vài khóm tre già đang tu thân dưỡng tính, mấy bụi hoa giấy đã thò ra khỏi đầu tường. Tư thế

chậm chạp thong thả của chúng khiến bạn cảm thấy mùa xuân nơi đây vẫn

còn đang chần chừ, hỏi xem đã đến thời khắc giao mùa hay chưa. Người đến người đi dừng chân trước khoảng sân có điêu khắc mấy bức tranh cổ dân

gian này, không chỉ vì muốn ngắm nghía khung cảnh bên trong bức tường,

mà là muốn có một chốn quay về trong cuộc đời. Đây là mái nhà của người

Thành Đô, họ bảo vệ những ngày tháng xanh rờn trong sân, không còn ước

cầu gì hơn. Mặc cho những cánh én bay xa ngàn dặm, cũng sẽ quay trở về

mái hiên quen thuộc, nghỉ ngơi trong những chiếc tổ đơn sơ của chúng, và người chủ nhân già đi, kể lại những câu chuyện cũ ngày ngày bồi đắp xây mộng năm xưa.

Nếu có thể giữ lại được tuổi thanh xuân, tôi sẽ

đặt cược tất cả vốn liếng để bản thân đắm chìm trong ngõ rộng, hẹp và

dưới ánh mặt trời chói lọi. Không cần thề hẹn, quên đi tháng năm, chỉ

dùng sinh mệnh trẻ trung đón nhận quãng thời gian hạnh phúc này. Không

để mỗi chặng đường đi qua lưu lại dấu tích, không để bất kỳ ký ức nào

tan tác thành tàn tro.

(2) Ngõ giếng

Nếu nói ngõ rộng, hẹp là một cuốn sách giản đơn hoài niệm chuyện cũ người xưa, viết về cuộc

sống phố thị phồn hoa nhất của Thành Đô xưa, vậy thì ngõ giếng chính là

một nét bút thanh tân hiện đại trong trang sách. Trùng tu tô điểm lại

kiến trúc cổ xưa, vừa bảo tồn được phong cách mộc mạc năm nào, lại gia

tăng thêm nét thơ mộng của thời đại mới. Có nghĩa là, dùng tình cảm để

trang hoàng lại một quãng thời gian đã qua, thì quãng thời gian ấy sẽ

không bị mất đi hương vị nguyên sơ thuở đầu, mà lại đượm thêm phẩm chất

“ôn cố tri tân.”

Đi trong ngõ giếng cổ kính, tôi lại nảy sinh một cảm giác lần đầu gặp gỡ dưới bóng hoa đào. Bức tường văn hóa dài 400

mét đó cô đặc diện mạo lịch sử như ban đầu của Thành Đô xưa, giống như

một người già đã kinh qua mọi dâu bể, thì thầm kể lại chuyện kiếp trước

của Thành Đô. Mà dọc con đường này đầy rẫy những quán bar, nhà hàng mang đậm hơi thở thời đại, thu thập đủ mọi phương thức tự do sinh sống,

giống như một thiếu nữ tươi cười tựa hoa phù dung, diễn lại một kiếp hoa lệ của Thành Đô. Có lẽ, chỉ có người Thành Đô mới có thể dung hòa lịch

sử và hiện đại một cách hoàn mỹ và nhuần nhị đến thế, thanh sắc rực rỡ

đến thế.

Trước khi đến với ngõ giếng Thành Đô, trong ba lô của

tôi nhét đầy mộng ước tuổi xuân và những khát vọng hạnh phúc đối với

thành phố này. Ngỡ rằng, có mơ ước thì sẽ có hạnh phúc. Khi tôi nhìn

thấy những con người Thành Đô yêu cuộc sống trong ngõ giếng đó, có người đang lười biếng phơi nắng, có người đang túm tụm tán gẫu, có người đang ôm một bình trà ngủ gà ngủ gật. Những cảnh tượng thanh bình an lạc đó

chính là hạnh phúc trong mơ của tôi. Trời cao xanh ngắt, mây trôi bồng

bềnh, dưới ánh nắng vàng như mật ngọt, tôi dường như sắp thiếp đi. Nhưng lại cảm thấy niềm vui dấy lên trong trái tim, khiến tôi không dám bỏ lỡ bất cứ điều gì, chỉ muốn cùng họ sống qua quãng thời gian này ở Thành

Đô.

Một đám đông thanh niên đang cùng chơi và nghe nhạc, tôi lập

tức bị hút qua đó, hòa mình với họ để ủ những giai điệu thành một bình

mỹ tửu, để tuổi thanh xuân được say khướt một trận. Cuộc gặp gỡ vô tình

này không liên quan đến tan tụ, chỉ vui vẻ trong khoảnh khắc rồi sẽ cùng quên nhau. Còn tôi, đến đi đều vội vã, lòng không hề vướng bận, dù cho

hoa nở hoa tàn, vẫn thoải mái vô tư. Bởi vì, duyên phận nơi này vốn

không có trong số mệnh, chỉ là vĩnh viễn lưu lại nụ cười mỉm trên gương

mặt của người khách lữ hành. Đây chính là thời gian trong ngõ giếng,

vĩnh viễn mang một phong thái huyền ảo yên ổn, mặc cho tôi và bạn dùng

bất cứ phương thức nào để tận hưởng đời người.

Không cần nhiều

lời thêm nữa, tôi sẽ dùng ngòi bút của tuổi trẻ viết nên sự tươi đẹp của tuổi xuân đầy thơ và rượu. Để mỗi người đến với ngõ giếng này, trong

những tháng ngày hạnh phúc, họ đều có thể nhàn tản thưởng ngoạn sự nên

thơ của Thành Đô, nhận lấy thiên hạ đất Dung Thành.

Đều nói, đây

là thành phố mà đâu đâu cũng đầy ắp sự dịu dàng, cho nên khi rời khỏi

ngõ phố, trong lòng vẫn tràn ngập cảm giác dịu dàng ấy. Kỳ thực, ly biệt cũng như tương phùng, đều là những điều hết sức bình thường. Khe khẽ

quay người, tôi đã biết rằng, ở ngõ rộng, hẹp của Thành Đô, thứ nó quan

tâm là ký ức xưa nay của một thành thị, cái nó mở ra lại là đời người

rối rắm dao động của ngàn vạn khách qua đường.

Ngõ rộng ngõ hẹp

Dưới ánh nắng nhàn nhạt

Những con ngõ rộng hẹp dài hun hút

Ánh sáng rụng rơi đầy mặt đất

Chuyện xưa lướt qua tay áo người lữ khách

Đây chính là Thành Đô

Biết bao hạnh phúc nhàn tản

Chạm tay là với tới.

Đường phố ngập tràn khói lửa

Tỏa ra mùi vị của Thành Đô xưa

Cửa gỗ ngả màu

Mở ra ký ức của ngày hôm qua

Quán trà thời xưa

Kể lại cuộc sống phố thị Dung Thành

Còn có những mảng tường xanh rêu

Năm này qua năm khác

Giữ chân những người khách bình thường

Không để thời gian thay đổi dung nhan của thành phố

Một con ngõ nhỏ tuổi đời trăm năm

Trải qua hết thảy tươi héo phàm trần

Ngắm hết vô số chúng sinh

Có người đem tuổi thanh xuân

Treo trên những khung cửa chạm trổ

Có người đem tâm tình nhàn rỗi

Rải trên con đường lát đá tinh khôi

Còn có người đem câu chuyện

Vội vã gói ghém vào hành trang của mình

Đời người thật quá chậm, quá chậm

Ngắm hết phong cảnh trong ngõ

Cuộc sống Thành Đô xưa vẫn còn nguyên dáng vẻ ban đầu

Đời người cũng thật quá nhanh, quá nhanh

Tựa như một chén nhàn trà

Từ ấm sang lạnh, từ đặc sang nhạt

Chỉ trong khoảnh khắc mà thôi

Mở toang cánh cửa khóa im lìm trong hồi ức

Ngõ rộng ngõ hẹp của Thành Đô

Mỗi ngày đều đợi chờ khách qua đường với sự nên thơ cố hữu

Chẳng bao giờ là sớm nhất

Cũng chẳng bao giờ là quá muộn.

Thiên phủ Cẩm Lý

Nhắc đến Tứ Xuyên, điều khiến người ta nhớ đến là phong tục tập quán của

vùng Xuyên Tây, nhớ đến những sự kiện lịch sử thời Tam quốc, nhớ đến văn hóa nồng hậu của đất Ba Thục. Nơi đây đất đai rộng lớn, sản vật dồi

dào, lịch sử lâu đời, tự cổ đến nay đã có tiếng khen là “đất nước thiên

đường”. Thành Đô chính là thủ phủ của Tứ Xuyên - được gọi là “thành phố

thiên đường”, vẻ nhàn nhã, phong thái và cả sự dịu dàng của nó khiến

những người tới đây rồi đều không muốn rời đi. Cảm Lý được tôn xưng là

“Thanh Minh thượng hà đồ bản Thành Đô[3]”, đây là tòa kiến trúc tinh túy của thành cổ. Những người bước vào bên trong chỉ khi lật giở bức tranh

phong tục dân gian truyền thống này, mới có thể thực sự lĩnh hội được vẻ đẹp rực rỡ của Thành Đô, thưởng thức được sự phong lưu hào hoa của đất

Thục.

[3] “Thanh Minh thượng hà đồ” (tranh vẽ cảnh bên sông vào

tiết Thanh Minh): là tên tác phẩm hội họa khổ rộng của Trung Quốc, bản

đầu tiên và nổi tiếng nhất là của họa sĩ Trương Trạch Đoan đời Tống. Tác phẩm mô tả cảnh sống của người dân Trung Quốc đời Tống tại kinh đô Biện Kinh (tức Khai Phong ngày nay) với đầy đủ những sinh hoạt thường nhật,

trang phục, ngành nghề, các chi tiết kiến trúc, đường xá cũng được mô tả kỹ lưỡng với nhiều màu sắc trên một diện tích rộng. “Thanh minh thượng

hà đồ” được vẽ trên một trường quyển có kích thước 24,8×528,7 cm.

Danh tiếng của “Thanh minh thượng hà đồ” tại Trung Quốc rất lớn, chính vì

vậy đôi khi nó được gọi là “Mona Lisa của Trung Quốc”. Nó là báu vật của nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc và hiện được trưng bày tại bảo

tàng Cố Cung, Bắc Kinh.

Cẩm Lý, tức là Cẩm Quan Thành. Thường

Trác đời Tấn viết trong “Hoa Dương quốc chí”, phần “Thục chí” rằng “Châu chiếm học phủ của quận để làm học phủ của châu, học phủ của quận

liền chuyển từ phía nam cầu Di Lý đến phía đông cầu, bắt đầu gây dựng

nền học, học phủ của quận có bờ tường thấp bao quanh, dẫn thẳng đến phía tây thành, do đó gọi là Cẩm Cung. Thợ dệt dệt gấm, giặt nước sông ở đây thì gấm rực rỡ tươi đẹp hơn hẳn, các sông khác không bằng, vì Thế Âmà

được gọi tên là Cẩm Lý vậy.” Cẩm Lý do bảo tàng Văn Hầu tự khôi phục

trùng tu, hiện là phố thương mại đi bộ nổi tiếng nhất thành phố Thành

Đô, được xây dựng phỏng theo phong cách kiến trúc cuối thời Thanh đầu

thời Dân Quốc. Con phố này lắng kết tinh hoa cuộc sống Thành Đô, có khu

ăn vặt điểm tâm nổi tiếng Tứ Xuyên, khu trưng bày và bán hàng thủ công

mỹ nghệ truyền thống Tứ Xuyên, khu khách sạn phủ đệ, khu giải trí thời

trang… và được gọi là “Đệ nhất phố Tây Thục”.

Bước vào bên trong

Cẩm Lý, mới biết đây là nơi khói lửa mịt mùng. Nhưng ngày tháng nơi đây

sẽ không bị rối ren loạn động, trong hỗn tạp lại đan xen một cảm giác

yên tĩnh cổ xưa. Từng cửa tiệm trên phố đều lay tỉnh hết thảy ký ức của

Thành Đô, cho dù bạn là con đi xa trở về, hay là khách qua đường, đều

không thể đặt mình nằm ngoài nó. Mà những người cam tâm tình nguyện trọn vẹn hòa vào trong dòng người, cùng họ ngắm nghía khói lửa nhân gian,

nếm trải trăm vị thế tình. Cẩm Lý như một bức tranh cổ quá nhiều ý vị,

hội tụ đầy đủ cuộc sống thuần phác của dân chúng phố chợ, lại như một

bình trà xanh, được pha bằng những câu chuyện, đợi chờ người có duyên

dùng tâm thưởng thức.

Khi đến Cẩm Ly, lưng đeo tay nải rỗng

không, bởi vì tôi biết, sẽ có quá nhiều điều kinh ngạc và câu chuyện

hiện hữu ở nơi đây lấp đầy hành lý của tôi. Dạo bước trên ngõ phố đầy

hành lý của tôi. Dạo bước trên ngõ phố của Cẩm Lý, nếp sống của người

dân Xuyên Tây từ lâu đời ùa tới, chỉ trong tích tắc, tôi đã bị sự náo

nhiệt quen thuộc của nơi này chuốc say. Tựa như tôi có tính cách của

người Thành Đô, có tâm tình nhàn rỗi của người Thành Đô, hơn nữa có thể

cùng với họ hưởng thụ niềm hạnh phúc và sự ấm áp mà thành phố này mang

lại.

Một con phố cổ dẫn ra nguyên vị của cuộc sống phố thị, đi

xuyên qua nó, không cần suy nghĩ điều gì, chỉ cần hết lòng chìm đắm

trong giấc mộng đất Thục này, để tuổi xuân một lần nữa được buông thả

vui vẻ. Tôi của lúc này có thể tìm thấy câu chuyện của ngày hôm qua

trong phong cảnh sự vật của ngày hôm nay, lại có thể diễn lại truyền kỳ

của ngày hôm nay trong đáy sâu của ngày hôm qua.

Những đồ trang

sức thủ công muôn màu muôn vẻ trong các cửa tiệm không ngừng vẫy gọi tôi dừng chân, như một thứ ngôn ngữ không lời đang kể cho tôi nghe về văn

hóa phong tục của Xuyên Tây, vì bản thân chúng vốn là văn minh của Thục

Trung, là chuyện cũ của Thành Đô. Khiến tôi tình nguyện trả trước những

ngày tháng quý báu, giao phó tuổi hoa của mình, vì chúng mà ở lại. Trút

bỏ hành trang, quên mất mình là lữ khách, bước vào một quán trà phường

rượu nào đó, gọi một bình trà, ăn một bát mì thịt bò, ngồi mãi không

muốn đi. Không rời xa được tháng ngày tươi đẹp cổ kim đổi dời, không rời được cuộc đời nhàn nhã say tỉnh đan xen này. Mỗi một món đồ thủ công ở

đây đều khiến tôi lưu luyến, mỗi một món ăn đều khiến tôi nhớ mãi, mỗi

một gương mặt người, đều khiến tôi cảm động.

Cẩm Lý là một con

phố cổ thích hợp với việc hoài cổ, cũng là một địa điểm mà người nhã kẻ

tục có thể cùng thường ngoạn. Rất nhiều người đến đây có thể tìm lại ký

ức tươi đẹp, cũng có thể hưởng thụ cuộc sống chậm rãi, an nhàn giữa phố

thị sôi động xô bồ. Ánh dương luôn hiểu lòng người, nhìn thấu hết thảy

sự náo nhiệt của Cẩm Lý. Đứng trên phố nhìn những người thợ thủ công

quẩy gánh nặn tò he, mua súc vải gấm của đất Thục trong những cửa tiệm

sặc sỡ sắc màu, dưới khán đài xem một đoạn kịch có kỹ thuật đổi nét đặc

sắc. Tựa như mượn một súc vải thêu, vải gấm đất Thục là có thể dệt nên

sơn hà tráng lệ, nghe một đoạn kịch Xuyên là có thể diễn hết buồn vui ly hợp, uống một bát rượu cay là có thể gia nhập buổi kết nghĩa vườn đào.

Cẩm Lý chính là một con phố cổ đầy rẫy huyền thoại, rõ ràng đứng giữa

hồng trần phồn hoa, mà lại thản nhiên như nằm ngoài hồng trần.

Có người nói, đi loanh quanh ở Cẩm Lý của Thành Đô cũng giống như đi dạo ở Lệ Giang của Vân Nam, nhưng tôi lại cảm nhận được tục lệ thói quen giữa hai nơi này khác nhau hoàn toàn. Ở Cẩm Lý, điều khiến tôi kinh ngạc

nhất là kịch rối bóng. Tạo hình rối bóng sinh động, linh hoạt, những

hình vẽ tinh tế tỉ mỉ, động tác linh động, khéo léo, âm điệu tròn trịa

uyển chuyển, sức lôi cuốn của loại hình nghệ thuật cổ điển mộc mạc mà

tao nhã này tạo ra có thể khiến những mây gió đã chìm khuất lại nổi lên, khiến quá vãng đã lùi xa được tái hiện trở lại. Nó có thể khiến người

ta ôn lại những phong tục thuần phác của Xuyên Tây, tìm lại những niềm

vui giản đơn của tuổi thơ ấu. Tôi nhìn thấy người Thành Đô sống một cuộc đời vui vẻ sung sướng ở Cẩm Lý, đem những tâm nguyện tốt đẹp nhất hong

dưới ánh nắng ấp áp, đem những câu chuyện bình thường phản chiếu lại

trong một vở kịch rối bóng.

Kịch chưa kết thúc, ánh đèn vẫn sáng. Đứng trong phố cổ Cẩm Lý tràn ngập hơi thở của ngành kinh doanh, nhìn

ra xa chỉ có Vũ Hầu tự (miếu Vũ Hầu) sát ngay gần đó, lúc này đang im

lìm trầm mặc. Sự trầm mặc của nó, có phải là đang chờ đợi một câu chuyện ngàn thu ba lần đến nhà tranh khác hay không? Lưu Bị và Gia Cát Lượng

của năm đó, có phải vẫn còn đang ở thánh địa Tam Quốc, ngồi đối diện

nhau, gẩy đàn nâng chén hay không?

Cẩm Lý, bạn hãy nhìn hành

trang rỗng không này xem, nó đã bị lấp đầy bằng cuộc sống chân thực và

văn hóa lịch sử nơi đây. Mang theo những ký ức sinh động đầy ắp này, đủ

để nuôi dưỡng tâm tình một đời, và truyền cho một người khác. Hãy để họ

biết rằng, ở Cẩm Lý có một bức tranh “Thanh Minh thượng hà đồ” phiên bản Thành Đô hết sức thú vị.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.