Chương 23: Thất Diệu Ngàn Năm Vững Bến Sông

Đêm hội hoa đăng giỗ tổ xóm Ngói dần khép lại khi tàn nến cuối cùng trôi xuôi về phía hạ lưu, nhường chỗ cho một sớm ban mai tinh khôi rực rỡ. Trời quang mây tạnh sau những ngày giông bão ngút ngàn, vầng dương từ từ nhô lên khỏi rặng tre xanh đôi bờ, dát từng luồng ánh sáng vàng óng như mật lên lớp ngói vảy rồng uốn cong thanh thoát của Thất Diệu Kiều. Bảy gian nhà cầu lợp ngói rêu phong vươn mình sừng sững dài mười lăm trượng, gối trọn bờ vai vững chãi trên sáu hàng mố đá xanh ngâm sâu dưới làn nước phù sa phẳng lặng. Mùi gỗ táu ngâm bùn thoang thoảng hòa trong hương ngải cứu, hương khói trầm còn đọng lại bên khám thờ Lỗ Ban tạo nên một bầu không khí trầm mặc, thiêng liêng và ấm áp khôn cùng.

Cụ Thiều Thục Chi ngồi thảnh thơi trên dải ghế gỗ lim bóng loáng nơi gian giữa cầu ngói. Lão bà tám mươi tuổi khẽ tựa lưng vào thân cột cái, bàn tay nổi gân guốc vuốt nhẹ đường vân gỗ sến đã cùng cụ đi qua biết bao phen dâu bể bến Lục Đầu.

“Cụ Cả, cụ uống ngụm nước chè tươi cho ấm bụng sớm mai kẻo sương sông còn lạnh.”

Một giọng nói trong trẻo, ngọt ngào cất lên xua tan sự tĩnh lặng. Mai Nương bưng chiếc khay gỗ nhỏ, cẩn thận đặt lên bàn một bát nước chè xanh nghi ngút khói thơm. Nàng vận chiếc áo tứ thân màu nâu non mộc mạc, mái tóc đen mượt được vấn gọn gàng, nổi bật trên đó là chiếc trâm gỗ mun khắc hình chim én ngậm hoa sen—kỷ vật đính ước trăm năm mà Đặng Văn Mộc đã trao tặng đêm qua. Đôi má nàng ửng hồng e ấp, ánh mắt lấp lánh niềm rạng ngời của người con gái vừa tìm được bến đỗ bình yên.

Cụ Thiều ngước lên, đôi mắt sáng quắc tinh tường khẽ cong lại thành những nếp nhăn hiền hậu. Cụ đón lấy bát nước chè, nhấp một ngụm nhỏ, vị chát ngọt đậm đà nơi đầu lưỡi như thấm sâu vào tận ruột gan. Cụ vỗ nhẹ lên mu bàn tay thon thả của Mai Nương, giọng ấm áp khàn khàn “Khéo tay lắm, con dâu hiền! Trà mới hái đầu cành, nước sông lắng cặn ba ngày, đun trên than hoa nhãn mới đượm được cái vị thanh này. Mẹ con bên quán nước đằng đầu nhịp đã dọn hàng xong chưa?”

“Dạ thưa Cụ, mẹ con và em trai đã dọn xong quang gánh từ lúc gà gáy le te,” Mai Nương mỉm cười đôn hậu, ánh mắt hướng về phía đầu cầu rợp bóng cây bàng già. “Từ sớm tới nay, khách buôn trầu cau, người gánh cá tươi qua cầu ghé vào uống nước tấp nập. Mọi người đều tấm tắc khen cầu ngói vững, không còn lũ sâu mọt bến đò Tam Phù rình rập thu thuế bến bãi cắt cổ như trước, ai nấy đều nhẹ nhõm như vừa trút được tảng đá nặng đè trên ngực.”

Cụ Thiều gật đầu, lòng dâng lên niềm an ủi vô bờ. Gian tà Hoàng Bá Khang cùng phú thương Trần Phú Đạt đã bị tra gông sắt áp giải về kinh đô thụ án theo luật Hồng Đức nghiêm minh, trạm mãi lộ phi pháp bị triệt hạ tận gốc, còn mối oan khiên hai mươi năm của cố Phó cả Đặng Văn Nghiêm cũng đã được triều đình rửa sạch. Bến Lục Đầu từ nay vĩnh viễn thoát khỏi nanh vuốt của lũ quan thương tham tàn, trả lại nhịp sống ấm no cho hàng vạn sinh linh lam lũ.

Phía nhịp cầu mạn đông, tiếng gõ đục “cắc… tùng… cắc…” vang lên đều đặn, rộn rã át cả tiếng rì rào của con nước dưới chân mố. Cụ Thiều đưa mắt nhìn sang. Nơi ấy, Đặng Văn Mộc trong tư thế của một Tân Đốc công trẻ tuổi đang đứng giữa nhóm thợ trẻ của xóm Ngói. Chiếc thước tầm gỗ trắc đen nhánh—vật báu gia truyền mang dấu ấn hoa sen của người cha quá cố—được chàng cầm chắc nơi tay trái, ngón trỏ tay phải điểm từng đường mực son trên mặt thân gỗ táu vừa đưa lên sàn.

“Nhìn kỹ vào đây các chú!” Giọng Văn Mộc vang lên trầm hùng, dứt khoát nhưng đầy vẻ kiên nhẫn. “Mộng mang cá này phải phạt vát góc đúng hai phân sáu ly, không được chênh một sợi tóc. Lưỡi đục phải đi nghiêng theo chiều thớ gỗ, để khi hạ then ngậm chặt vào xà cái, sức nước xô tới bao nhiêu thì mộng gỗ càng tự ghìm chặt bấy nhiêu. Lấy mềm khắc cương, triệt tiêu xung lực, đó là cốt tủy mà Cụ Cả và cha tôi đã đúc kết trong cuốn ‘Mộc Kinh Thượng Diệu’. Làm nghề mộc trị thủy, tâm có ngay thẳng thì đường đục mới chuẩn xác, một vết nứt lười nhác hôm nay sẽ biến thành tai họa sập cầu ngày mai!”

Đám thợ trẻ xóm Ngói chăm chú lắng nghe, đứa cầm cưa, đứa mân mê lưỡi bạt, đồng thanh dạ ran một tiếng rồi thoăn thoắt cúi mình tiếp tục công việc đục đẽo. Nhìn vóc dáng vạm vỡ, đôi vai rộng vững chãi và phong thái chững chạc của chàng trai trẻ, cụ Thiều khẽ mỉm cười mãn nguyện. Vết thương dập ngực do phản lực xà gãy đêm cuồng phong đã hoàn toàn lành lặn, nhường chỗ cho một người thợ cả đầy bản lĩnh, sẵn sàng gánh vác rường cột của phường mộc qua bão táp thời gian.Mặt trời càng lên cao, bến Lục Đầu càng thêm rộn rã. Tiếng bánh xe bò cót két lách cách qua nhịp ván lim, tiếng guốc mộc rộn rã gõ trên sàn gỗ, tiếng rao hàng xôn xao của các bà, các chị gánh rau quả tươi ngon từ mạn Nam Sách sang phủ Đông Triều. Khách bộ hành, tiểu thương qua lại nườm nượp dưới bóng mát che chở của mái ngói vảy rồng.

Khi đi ngang qua gian giữa, thấy cụ Thiều Thục Chi đang ngồi ung dung nhấp chè, mọi người đều tự giác dừng bước, kính cẩn nghiêng nón, chắp tay cúi đầu chào vị lão nghệ nhân đức cao vọng trọng “Kính chào Cụ Cả! Chúc Cụ trường thọ bách niên!”

“Cụ Thiều ơi, cầu ngói vững vàng thế này, dân chúng con buôn bán qua sông an lòng lắm rồi, ơn đức của Cụ và xóm Ngói nghìn năm không quên!”

Cụ Thiều khẽ gật đầu đáp lễ, trên gương mặt hằn sâu nếp nhăn nở một nụ cười ấm áp, đôn hậu “Các bác, các thím cứ thong thả qua sông. Cầu này là của trăm họ dựng nên, che chở cho trăm họ, cứ yên tâm mà làm ăn, vun vén xóm làng.”

Những bước chân ríu rít lại tiếp tục rảo bước, tiếng cười nói giòn tan rải dài khắp bảy gian kiều, hòa cùng tiếng nước vỗ nhẹ vào chân mố đá xanh êm đềm như một khúc ca thái bình thịnh trị.

Đưa mắt nhìn ra xa, dòng Lục Đầu Giang trải rộng mênh mông, sóng biếc lấp lánh phản chiếu vòm trời thu trong vắt. Khúc dầm lim bị cưa trộm ngày nào nay đã được thay bằng then táu vững như bàn thạch, ngàm khóa đuôi én đan kết thành một khối liên hoàn bất hoại. Cây cầu ngói Thất Diệu Kiều không chỉ chặn đứng con nước lũ ngàn năm xé đê, mà còn đạp bằng mọi mưu ma chước quỷ của lòng người hiểm ác, đứng sừng sững như một biểu tượng bất khuất của trí tuệ dân gian và tinh thần gắn kết muôn người như một.

Gió sớm thổi qua mái ngói, lay động dải tóc bạc phơ như cước của cụ Thiều. Cụ đưa tay vuốt chòm tóc bạc, lắng nghe tiếng búa vồ nện xuống từng then chốt gỗ chắc nịch hòa quyện với tiếng đục giòn giã của thế hệ sau. Lòng lão bà bát tuần trào dâng một niềm xúc động vô biên, thanh thản và trọn vẹn.

Bão giông đã tan, huyết mạch bến sông đã yên bề phẳng lặng. Cây cầu ngói trên bến Lục Đầu này sẽ còn đứng vững trăm năm, ngàn năm nữa, bởi mộng gỗ cổ truyền cùng đạo nghĩa son sắt của người thợ Đại Việt đã cắm rễ sâu bền vào lòng đất mẹ trường tồn.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.