Chương 11

Về

chiều, không gian trong Thệ Thủy trà hiên thật yên ả.

Đây là

một nơi cổ quái, giá vảo cửa rất đắt. Người phục vụ là các thiếu nữ mười sáu

mặc đồng phục, mang theo những ấm trà màu đồng cổ, để chân trần, đi êm không

phát ra tiếng động trên lớp thảm màu biếc xanh.

Ở nơi

đây, anh không cần phải gọi người ta châm trà, những thiếu nữ phục vụ đó luôn

luôn nhận ra trà trong chén còn lại bao nhiêu trước anh.

Cao

Thính Tuyền ngồi sau một tấm bình phong ở mé tây, trước mặt đặt một cây cổ cầm

mà nước sơn đã mòn hết nhưng bóng như ngọc đen.

Hắn mặc

một chiếc áo bào xanh nửa mới nửa cũ, chân xỏ hài mây, trông dáng vẻ vừa đen

vừa gầy, không hề khiến người khác chú ý tới. Hắn không phải khách quen ở đây

nhưng không rõ vì sao, ba ngày liền ngày nào cũng tới, mỗi ngày đều đúng giờ

Thìn thì tới, đến tối mới đi, uống hết sáu tách trà chanh, ăn một đĩa bánh hoa

quả cho bữa trưa.

“Sao rồi?

Vẫn chưa quyết định?”, Điền tam gia chắp tay sau lưng, nhàn tản dạo bước tới

cười nói. Ông ta là chủ của Thệ Thủy trà hiên, cũng là người kinh doanh có

tiếng ở đất này, bán nhà, bán đất, bán đồ cổ, bán đồ dùng… cái gì cũng bán.

Người lai vãng đến trà hiên đều là khách quý, chỉ cần có hàng trong tay, thông

báo một tiếng, ông ta thường rất nhanh chóng tìm được người mua.

“Cầm kỹ

của công tử siêu phàm, sao không tự mình tấu một khúc để làm rõ thật giả? Để

bọn tục nhân chúng tôi cũng nhân tiện được sướng lỗ tai một phen?”, thấy Cao

Thính Tuyền mấy ngày liền không đáp lời, cũng không ra giá, hắn không khỏi có

chút cuống lên, đành phải thúc giục một chút.

“Đã có

cái thú với đàn, cần gì phải động dây thành âm?”, Cao Thính Tuyền nhấp một ngụm

trà, thong dong nói.

“Một

nghìn năm trăm lượng, đây là giá chốt. Nếu không phải tri phủ đại nhân có chút

chuyện, cần tiền lấp mấy chỗ thiếu thì cũng không đành bán.”

“Nếu

đúng là hàng thật, thế đương nhiên không đắt”, Cao Thính Tuyền nói: “Điền tam

gia không thể không biết, tôi cũng chỉ là một kẻ nghèo khó dựa vào chút tài hèn

đi kiếm tiền”.

Điền

tam gia nghe thế trong lòng cực kỳ hối hận, thật không biết mình ăn lộn thứ

thuốc gì nữa. Vốn cho rằng trong trà hiên kẻ phú quý không ít, người tao nhã

lại càng nhiều, làm sao biết ôm đàn đi hỏi một vòng, chẳng có ai đáp tiếng. Sau

rồi cũng có người đồng ý giới thiệu một người thiện về đàn tới xem hàng, người

đó mặt mày âm trầm, vào cửa rồi chỉ ngồi đơ ra đó, không nói nhiều một câu, hỏi

hai câu hắn lại kêu nghèo. Mà cái tin tức này cũng theo đó dần truyền ra, đã có

hai vị khách mua hào phóng ở phía sau, đợi kiếm hàng bàn giá, xem ra vẫn còn

đất để đưa giá. Cho nên Điền tam gia đã quyết chủ ý, một nghìn năm trăm lượng

là một nghìn năm trăm lượng, một phần tiền cũng không nhường.

“Công

tử hẳn đã xem giấy giám định của Tôn lão gia ở Thanh Hoan các. Đã qua pháp nhãn

của lão gia, lẽ nào còn có thể là giả? Huống chi đàn này vốn là từ Thanh Hoan

các bán ra, lúc ấy giá chào là bốn nghìn lượng, có hai vị tranh nhau mua, cuối

cùng sáu nghìn bốn trăm lượng thành giao.”

Cao

Thính Tuyền không mảy may lay động, mắt trợn lên, cứ như người đang đứng trước

mặt mình là một gã lừa đảo chính hiệu: “Làm sao tôi biết đây là cây đàn ấy?”.

“Hay là

công tử còn muốn đưa đi giám định một lần nữa? Tôn lão gia cũng không phải là

không có thời gian, chỉ có điều tiền giám định của ông ấy đắt khiếp người, mỗi

lần một trăm lượng. Công tử hẳn biết, năm nay cho dù có mời danh y tới đỡ cho

một đứa trẻ sinh khoẻ mạnh lễ tạ chẳng qua cũng chỉ có mười lượng bạc thôi.”

“Trừ

Tôn lão gia, các tiệm khác cũng có giám sư. Tiệm đồ cổ Vinh Ký hôm nay treo

bảng cũng có hai vị mới, tôi tuỳ tiện mời một vị tới xem rồi”, Cao Thính Tuyền

nói.

Điền

tam gia nghe thế, tức giận khôn nguôi, gần như quát vào mặt người này: “Đồ cổ

Vinh Ký, cái thứ cửa tiệm hạng bét ấy, công tử cũng đi?”.

Cao

Thính Tuyền im lặng.

Nguyên

nhân hắn tới đố chỉ vì chỗ ấy giá giám định rẻ, người mới lại càng rẻ.

Cảm

thấy thái độ của mình có chút nôn nóng, làm mất giá cây cổ cầm trăm năm này, ừ

thì cũng không sao nhưng làm mất khí độ của Điền tam gia thì nhất quyết không

được: “Ừm… đương nhiên… đàn quý nhường ấy, thêm mấy người xem cũng chẳng có gì

hại”, ông ta vừa giả bộ cười cười vừa qua quýt lấy lệ: “Có điều, chỉ sợ phải

xin công tử nhanh nhanh quyết định. Người đợi xem hàng đằng sau còn có mấy vị

nữa đấy”.

“Tam

gia yên tâm, bất luận là mua hay không, hôm nay nhất định sẽ cho ông một câu

trả lời.”

Vừa dứt

lời thì thấy thị nữ dẫn một người thong thả đi tới chỗ bọn họ. Người này toàn

thân ẩn trong lớp áo choàng to đùng, khó phân biệt được là nam hay nữ. Đến

trước mặt họ, kéo mũ trùm xuống mới lộ ra một khuôn mặt thanh tú xinh đẹp, mày

ngài khẽ đưa, mắt như nước mùa thu, bên trong mặc bộ áo mỏng màu trắng, thì ra

là một người con gái.

Cao

Thính Tuyền nhìn cô gái đánh giá, mày nhíu lại.

“Vị này

là Cao công tử”, thị nữ chỉ hắn, nhẹ giọng nói: “Người cô nương muốn gặp là vị

công tử này phải không?”.

“Tôi

nghĩ chắc là đúng rồi”, cô gái cười nhẹ, chỉnh trang y phục thi lễ: “Tôi họ Tô,

tên có hai chữ là Phong Nghi, giám sư của tiệm đồ cổ Vinh Ký. Là Vinh lão bản

kêu tôi tới đây”.

“Vị này

là Điền tam gia”, thị nữ lại nói.

“Điền

tam gia cũng là bằng hữu của Vinh lão bản”, cô gái khẽ cười thi lễ.

Điền

tam gia phải tốn rất nhiều sức lực mới khiến bản thân không bật cười ra tiếng.

Làm cái nghề buôn đồ cổ, từ trước tới giờ chưa từng nghe có phụ nữ làm giám sư.

Có là Lý Thanh Chiếu năm xưa viết Kim Thạch hậu

lục cũng hẳng qua là viết chơi cho vui mà thôi. Với lại cô

gái này không cài trâm đeo vòng, trên người không có đồ lạ, kể cả quần áo cũng

chỉ là hàng phổ thông – người trong nghề ra mặt mà tới cả cái dáng cho ra hồn

cũng không có – hèn gì không khiến người khác buồn cười.

“Công

tử muốn tôi giám định, chính là cái đàn này?”, Tô Phong Nghi chỉ vật nằm trên

bàn nói tiếp.

Hai

người kia đồng thời gật đầu.

“Giá

giám định của tôi là ba mươi lượng, trả trước giám định sau. Bạc trắng, ngân

phiếu đều được. Bạc trước tốt nhất là ba đĩnh bạc mười lượng, ngân phiếu chỉ

lấy của ba hiệu Đại Thông, Hợp Thuận, Bảo Xương, nơi khác đều không dùng”, cô

gái báo giá cực kỳ lão luyện.

Cao

Thính Tuyền mặt mũi nặng trịch giao ngân phiếu ba mươi lượng ra. Điền tam gia

chỉ đứng một bên cười khẩy.

“Đa

tạ”, Tô Phong Nghi đếm xong ngân phiếu, cất vào túi, rồi nói tiếp: “Đây là vụ

làm ăn một đổi một của Cao công tử với đồ cổ Vinh Ký, không phải Điền tam gia

cũng có hứng thú nghe chứ?”.

Điền

tam gia vuốt chòm râu nói: “Quy củ của Tô cô nương quả nhiên rất nhiều. Có

điều, đúng là tôi muốn nghe xem cây đàn này được phán ra làm sao”.

“Một

lần nghe cũng là ba mươi lượng”, trong mắt cô gái ngập ý cười, nói tới tiền

liền một xu không bớt, không hề khách khí.

Điền

tam gia không biết làm sao đành thấp giọng sai, một thị nữ nhanh nhẹn tới phòng

sổ sách lấy ngân phiếu đem lại.

Thu

tiền ổn thoả, Tô Phong Nghi lấy trong người ra một đôi găng tay tơ tằm mỏng như

cánh xe, thong thả đeo vào rồi hỏi: “Có thể thắp thêm hai cây nến trên bàn được

chăng?”.

“Đương

nhiên.”

Nàng

quan sát cây đàn một lúc, xem mặt trước mặt sau. Sau đó cởi găng tay, cẩn thận

rửa sạch tay, tỉ mỉ sờ hai cạnh của cây đàn mấy lượt, rồi “tinh” một tiếng,

nàng gẩy dây đàn.

Khách

trong trà hiên đều là người tao nhã, nói chuyện rất khẽ khàng. Không để ý kỹ

thì còn cho rằng mấy nhóm người túm năm tụm ba này đang tụ lại thương lượng âm

mưu gì đó. Cây cổ cầm bỗng dưng cất tiếng, âm thanh vang vọng trong trẻo, ở cái

nơi phòng trà tĩnh lặng này thật chẳng khác gì bất chợt có tiếng sấm đánh,

khiến mọi người phẫn nộ, ánh mắt đổ hết sang. Điền tam gia vội vàng chắp tay

vái vái, cười xoà một tiếng.

Trầm

ngâm hồi lâu, Tô Phong Nghi ngẩng đầu lên, nhìn Cao Thính Tuyền hỏi: “Cây đàn

này ra giá bao nhiêu?”.

“Một

nghìn năm trăm lượng.”

“Trong

đó hẳn chí ít có hai phần là tiền hoa hồng của Điền tam gia, đúng chăng? Vậy

giá thực đại khái là một nghìn hai trăm lượng.”

Cao

Thính Tuyền nói: “Nói tiếp đi”.

“Đây là

đàn giả, không đáng ngần ấy tiền. Theo tôi thấy, hai trăm ba chục lượng là đủ

rồi.”

Điền

tam gia giận tím mặt, thét lên: “Nói xằng nói bậy!”.

Cao

Thính Tuyền trong lòng hơi chấn động, nhưng mặt vẫn không đổi sắc: “Sao cô lại

thấy thế?”.

“Cổ cầm

lấy vân đoạn[1] làm bằng chứng, chưa đủ

năm trăm năm thì không có vân đoạn. Tuổi càng nhiều vân đoạn càng lắm. Vân đoạn

có mấy bậc, như hoa mai là hạng nhất, hình lông trâu xếp sau, vân bụng rắn là

hạ phẩm. Vân đoạn mai hoa cực cổ, không dư ngàn năm thì không thể có. Hai thứ

sau lại dễ làm giả. Một cách là lấy lửa hơ nóng, sau lại ngâm trong tuyết, gỗ

theo đó mà có vết nứt, dạng như hoa văn bụng rắn; một cách khác là lấy lòng

trắng trứng hoà với tro thoa lên rồi lấy chõ đem chưng, xong treo ra hong gió

cho khô, cũng có thể tạo ra một chút đoạn. Làm giả dễ nhất chính là loại vân

đoạn lông trâu, chỉ cần dùng dao nhỏ hoặc ngân châm vạch lên, rồi lại dùng sơn

bóng mài lên lập tức sẽ thật giả khó phân. Cao thủ nổi tiếng trong nghề làm đàn

giả tổng cộng có sáu vị, cây đàn này chắc hẳn phải là từ họ Thư ở Hàng Châu

thuở trước. Lão thái của Thư gia năm nay thọ đã bảy mươi, vốn là hoa khôi bến

Tần Hoài, tinh thông cầm nghệ. Vân đoạn lông trâu bà làm ra chuyên dùng tóc của

nữ đồng năm tuổi đánh bóng, lại dùng sáp nến chêm vào cho nên rất khó phân

biệt. Dùng tay sờ đi sờ lại thật kỹ mới có thể nhận ra vết nứt. Nếu là hàng

thật, phải là nhìn thì có vân nhưng sờ thì không thấy vết, kín kẽ không rạn,

cũng không lan rộng. Nay trên thị trường, khi xem cổ cầm thì coi đàn do ba nhà

Lôi, Trương, Triệu chế tác những năm Khai Nguyên, Thiên Bảo[2]thời

Đường là quý giá nhất. Mắt đàn phỏng kiểu Long Trì Phượng Chiểu này chính là

phép của danh sư Lôi Tiêu. Trong bụng đàn lại có lạc khoản ‘Khai Nguyên Quý Sửu

tam niên chước’, quả thật to gan nhưng tinh tế, không chút sơ sẩy”, nói liền

một mạch, đôi mắt nàng chuyển một cái: “Có điều, cây đàn này trên là gỗ đồng

dưới là gỗ thị, dùng là dùng dương tài[3] thượng

hạng, tấu lên sớm đục tối trong, nắng đục mưa trong. Âm của nó du dương trong

sáng, trong cái thuần đạm có tiếng đá vàng, vẫn không uổng là một cây đàn tốt…

Cho dù không đeo lên cái danh cổ cầm thì giá cũng vẫn ở mức hai trăm lượng trở

lên”.

[1]

Tức đoạn văn: Chỉ các vết nứt trên bề mặt đàn cổ do nhiều năm phong

hoá và những chấn rung khi diễn tấu hình thành nên. Văn ở đây là hoa văn.

[2]

Niên hiệu thời Đường Huyền Tông Lý Long Cơ của Trung Quốc.

[3] Cách

cổ yếu luận có viết: “Cổ cầm có âm, dương tài. Cây đồng hướng mặt về

mặt trời là dương, quay lưng lại mặt trời là âm… Đàn làm bằng dương tài thì sớm

tiếng đục tối tiếng trong, nắng tiếng đục, mưa tiếng trong; làm bằng âm tài thì

sớm trong tối đục, nắng trong mưa đục, cái này có thể kiểm nghiệm được” (Tài ở

đây tức chỉ vật liệu).

Một

phen diễn thuyết này khiến người trước mặt á khẩu câm tiếng. Ngớ ra hồi lâu,

Điền tam gia cười ha ha, nói: “Cô nương cao mình, Điền tam bội phục lắm. Nhưng

mà cây đàn này đã kinh qua kim nhãn của Tôn lão gia ở Thanh Hoan các, thư giám

định cũng là do ông ấy đưa ra. Với địa vị và danh tiếng của lão gia tử trong

nghề này, chắc không dễ gì nhìn nhầm chứ?”.

Phong Nghi cười nhạt, không lấy thế là phải: “Nhà giám định xẩy tay cũng là

chuyện bình thường. Tôn lão gia tuy xem nhiều biết rộng, đáng tiếc lại là nam

nhân, tuổi tác cũng cao rồi, cảm giác ở tay không khỏi kém đi. Vân đoạn lông

trâu mô phỏng tinh vi nhường này, chỉ có làn da mềm mại của đàn bà con gái mới

có thể sờ ra. Cho nên Thư gia trong nghề đồ cổ nhiều đời lấy việc chế đàn làm

nghiệp, chỉ là một đám thợ mộc mà thôi, sao có thể thoắt cái biến thành cự

phú?”.

Điền

tam gia nghe thế tức đến nỗi trong đầu bốc lửa, muốn cãi nhưng lại không tìm ra

lời mà cãi, chỉ hận không thể một quyền đấm ngã nữ nhân có cái miệng quạ đen

này. Kế đó đôi mày nháy một cái, hừ lạnh một tiếng, quay mặt sang hỏi: “Công

tử, người nghe lời cô ta hay là tin lời Tôn lão gia vậy?”.

Cao

Thính Tuyền thong thả nhấp một ngụm trà, nhai lá trà trong miệng, “phi” một

tiếng nhổ trở lại chén rồi lãnh đạm nói: “Rất xin lỗi, cây đàn này tôi không

lấy nữa”.

“Cuộc

nói chuyện vừa rồi xin hai vị kín miệng hộ cho, đằng sau vẫn còn mấy vị khách

hàng muốn xem. Hai vị thong thả, tôi xin cáo từ trước”, Điền tam một mặt đặt

cây đàn vào hộp, mặt khác thấp giọng sai người hầu: “Chuẩn bị ngựa, đi Thanh

Hoan các”.

Thoắt

cái, trà hiên lại trở về với vẻ yên tĩnh như cũ. Tô Phong Nghi cười nói: “Hình

như Điền lão bản thẹn quá hoá giận rồi”.

“Có lẽ

thế.”

Nàng

đột nhiên rút từ ngân phiếu nọ đặt lên trên bàn: “Phải rồi, ngân phiếu của công

tử, xin nhận lại”.

Cao

Thính Tuyền sững ra, không đón lấy: “Đấy là tiền của cô nương”.

“Lần

này miễn phí, cảm ơn công tử tin tôi”, nàng thản nhiên rời đi.

Lúc Tô

Phong Nghi sải bước đi ra cửa, nàng không hề biết hành động của bản thân đã cứu

được mấy mạng người.

… Cao

Thính Tuyền vốn tên là Cao Việt, ngoại hiệu “Lục nhàn đao”, là đao thủ nổi

tiếng một dải Xuyên Thục. Người này cả ngày say đắm trong rượu ngon đàn hát,

chưa đến mức trong vò không gạo, dưới bếp hết muối thì sẽ không đi kiếm tiền.

Chỉ cần trong túi còn mấy lượng bạc, cho dù anh có đem vạn lượng ra mời, hắn

cũng không động đậy. Nhưng đến khi cùng quẫn rồi thì hắn lại chẳng hề kén cá

chọn canh, thường chỉ cần mấy trăm lượng bạc là hắn sẽ đi giết người. Cho nên

vừa rồi nếu hắn mua cây cổ cầm ấy về thì sẽ lập tức tiêu hết tất tần tật tích

luỹ. Chẳng được mấy ngày hắn sẽ xách đao ra khỏi cửa đi kiếm tiền tiêu nửa năm

còn lại.

“Tuý

luý mà nghe đàn, sao bằng so đao dưới mưa? Đao của ta như giai nhân đôi tám bẽn

lẽn phòng khuê, lấy việc được lọt vào mắt xanh của các hạ làm vinh hạnh. Mười

bảy tháng Tư, giờ Thân nhị khắc, đợi hầu ngài ở Tùng Phong cốc, Đường Hành.”

Bức thư

viết trên giấy Quỳ hoa dát vàng toả mùi hương nhè nhẹ, cả ngày không tan.

Chữ

viết trên đó là lối hành khải nhẹ nhàng uyển chuyển tựa như dương liễu phất phơ

bên đình, tay áo nhẹ rung; lại như hoa rơi tuyết rụng, theo gió bay lượn.

Bức thư

ngắn này là do một tiểu nhị hôm trước đưa tới, Cao Việt không hề quen biết

người viết thư. Cho nên hắn chỉ đành tới Thệ Thủy trà hiên mua một tập Giang

hồ đao phố lục bản mới nhất. Lật trang đầu tiên thì thấy tên của

chính mình “Thứ

mười, Cao Việt, người Gia Định, còn gọi là ‘Lục nhàn đao’. Đao của người này

dài hai thước chín tấc, hẹp mà cong, giống kiếm của Đông Doanh, không biết xuất

xứ. Tuổi tác: không rõ; sư môn: không rõ.”

Lật

liền hai trang tiếp theo, cuối cùng cũng tìm thấy tin tức hắn muốn biết “Thứ

hai mươi tám, Đường Hành, xuất thân Đường môn đất Thục. Dùng ‘Khinh Vân Lạc

Nhạn đao’, là tác phẩm do kiếm sư đất Đông Ngô xưa Lỗ Tam Quan chế tạo, kiểu

dáng xem hình vẽ kèm. Tuổi tác: mười chín. Phụ thân: Đường Tiềm; tổ phụ: Đường

Ẩn Tung, đã qua đời; tổ mẫu: Hà Tiềm Đao, đã qua đời. Công phu học từ phụ thân.

Chuyện khác về phụ thân cho tới tổ phụ, tổ mẫu, xem Giang

hồ kiến văn saocủa Phần Trai tiên sinh.

Mấy cái

danh tự vang dội đằng sau Đường Hành lọt vào tai Cao Việt cũng chỉ bình bình

thế thôi. Trước giờ đối với mấy thứ màu mè của giang hồ này, hắn đều không cảm

thấy hứng thú. Có điều, nước có phép nước nhà có luật nhà, người tại giang hồ

chính là không ngừng nhận được sự khiêu chiến của lớp người mới, tuỳ tiện cự

tuyệt sẽ bị xem là kẻ hèn nhát. Huống chi thu nhập của Cao Việt lại hoàn toàn

trông vào thứ hạng của hắn trong đao phổ, nếu trong một năm mà tỷ đấu ít hơn ba

lần thì thứ hạng sẽ nhanh chóng tụt xuống. Năm kia hắn kiếm được một khoản lớn,

dẫn đến việc năm rồi bệnh lười phát tác, ít khi động tới đao, thứ hạng liền rơi

ngay lập tức từ thứ năm xuống thứ mười. Nếu còn tụt thêm một bậc nữa, tên của

hắn sẽ xuất hiện ở trang thứ hai mất rồi.

Hắn vẫn

khá thích danh tự của mình tiếp tục được bảo lưu ở trang đầu, dù có là ở vị trí

sau chót.

Cho nên

đầu giờ Thân, hắn ở trong nhà không còn hứng thú, tịch tịch tinh tinh đàn một

khúc Ly biệt tháo, khiến

cho nhị tẩu sống kế bên đứng cách vách chửi bới tơi bời rát cả mặt một trận,

rồi xách đao ra khỏi cửa cưỡi ngựa phi một mạch ba trăm dặm tới nơi đồng hoang.

Trời

bỗng đổ cơn mưa nhẹ.

Trong

mưa, cảnh sắc núi non mông lung, khói mây nồng cuộn, cây dại khắp chốn, cỏ mọc

um tùm.

Lần đầu

tiên Cao Việt nhìn thấy Đường Hành, hắn đang ngồi trên lưng ngựa. Cao Việt cảm

thấy bộ dạng hắn giống như con vẹt sặc sỡ… Cái cảm giác này nhiều năm về sau vẫn

y nguyên như thế.

Người

ngồi trên ngựa dáng người cao to khôi vĩ, mày rậm mắt sắc, mũ cao giày ống, áo

khoác màu đỏ nhạt, gió thổi phần phật, lộ ra trường bào nền trắng có hình hoa

điểu, màu sắc sặc sỡ tươi sáng.

Nhìn

thấy có người tới, Đường Hành thung dung xuống ngựa, hỏi: “Cao Việt?”.

“Chính

ta”, Cao Việt cẩn thận gật đầu: “Đường Hành?”.

“Không

sai”, hắn cười, ánh mắt thâm trầm mà chăm chú, một chút lo lắng như có như

không thoảng qua: “Ta tới từ lâu lắm rồi, phát hiện chỗ này khắp nơi đều là dâu

tây. Ta hái được một túi lớn, người ăn không?”.

Giọng

của hắn thư thái mềm mỏng, khiến người ta nghe mà say sưa.

“Không

ăn”, Cao Việt hờ hững đáp một câu, rồi mới nhận ra – có lẽ là vì ăn quá nhiều

dâu tây – đôi môi người trước mặt đỏ mọng, cứ như thoa một lớp son môi. Tiếp

đến hắn kỳ dị phát hiện ra lông mày của gã này không phải là tự dưng lởm chởm

như đám cỏ mà là do được cắt tỉa kỹ càng. Lúc nói chuyện Đường Hành đứng thẳng

tắp, tỏ ra thung dung chừng mực nhưng hai tay từ đầu đến cuối vẫn luôn đeo một

đôi găng da mềm mỏng màu đen, đại khái là ưa sạch sẽ.

“Được

rồi”, Đường Hành bỏ một quả dâu vào miệng, từ từ nhai mấy cái sau đó “phụt” một

tiếng nhổ thủng một phiến lá trên cây dâu.

Cho

rằng đấy là ám khí của Đường môn, Cao Việt cảnh giác nhích sang một bên nhanh

như chớp.

“Yên

tâm, lúc chính thức tỷ thí trước giờ ta đều không dùng ám khí”, hắn cười nhạo

báng một tiếng, nhấc cái chân dài của mình đặt lên bàn đạp yên ngựa, bắt đầu

buộc dây giày cẩn thận.

Lúc ấy,

Đường Hành quay lưng về phía Cao Việt, phải trái trước sau đều lộ ra sơ hở rất

lớn, Cao Việt chỉ cần đưa nhẹ một đao là có thể xuyên thủng tim hắn, hoặc là

cắt cái đầu hắn xuống.

Đấy

đương nhiên là chuyện mất sạch thanh danh, Cao Việt tuyệt đối sẽ không làm.

Đường

Hành buộc xong giày chân trái, lại buộc sang giày chân phải, cuối cùng cũng

đứng thẳng người, nói: “Ở đây luôn nhé, được không?”.

“Được”,

Cao Việt đã đợi tới có chút bực bội rồi.

“Phải

rồi, nếu ta không may bại trận, liệu có thể phiền ngươi mang xác ta về Đường

môn không?”, hắn đột nhiên hỏi.

Cao

Việt chỉ chỉ một cái rãnh tích đầy nước mưa cách đó không xa, nói: “Trước giờ

ta không làm chuyện ấy… Nhiều nhất là đem ngươi quăng xuống cái rãnh ấy thôi”.

Đường

Hành đi tới nhìn hắn lắc mạnh đầu: “Nếu quả thực ngươi định làm thế, lại phiền

ngươi lột hết y phục của ta ra trước”.

“Vì

sao?”

“Bộ y

phục này là do thợ nổi tiếng làm ra. Để may đúng theo đồ hình ta muốn, thợ may

đã phải bận bịu suốt một năm… Ta không hy vọng bộ y phục quý giá nhường này

phải lặn ngụp trong cái rãnh vừa bẩn vừa thối ấy.”

“Rất

xin lỗi, xưa nay ta không lột y phục của người chết. Nếu người thật sự không

nỡ, vậy tốt nhất là bây giờ cởi luôn đi.”

Đường

Hành gật đầu, nói: “Ta rõ rồi”.

“Ngươi

rõ rồi?”

“Ta

không thể chết dưới tay ngươi.”

Khi

Đường Hành nói hết những câu vớ vẩn nhảm nhí ấy xong, sự khinh bỉ của Cao Việt

đối với cái gã áo quần chăm chút này đã lên tới cực điểm. Hắn chỉ muốn nhanh

chóng rút đao, chém gã chết dưới ngựa, cho hắn trước khi nhắm mắt còn thấy được

máu tươi của mình nhuốm đầy bộ y phục màu mè ấy.

“Ùng”

một tiếng sấm rung, ánh chớp loé cùng ánh đao, tiếng sấm át đi tiếng đao chém.

Hai

bóng người chập chờn trong mưa, nước mưa vốn lất phất rơi, lại bị đao khua qua

khua lại khiến chúng rơi nhanh hơn gần như biến thành mưa rào. Cao Việt chỉ

thấy đao của Đường Hành như hình với bóng bám theo mình, giống như một con bươm

bướm cứ dập dờn trước ngực hắn, thêm chút nữa là sẽ xả xuống đầu hắn. Hắn miễn

cưỡng tiếp được mười chiêu đã cảm thấy đuối sức hết bài, đành phải liên tục lùi

tránh công kích như chớp giật của Đường Hành. Đến chiêu ba mươi lăm, Cao Việt

ngỡ mình đã tìm thấy một kẽ hở, nhắm chuẩn cổ họng Đường Hành một đao lia tới!

Lúc ấy,

hắn đã bị ép tới rìa rãnh nước nọ, cảm thấy có trượt đường trơn, bốn phía đều

là bùn lầy.

Nhưng

nhát đao kia chỉ sượt qua cổ Đường Hành, chẳng lưu lại được dấu vết gì, tay của

chính hắn thì lại bị chấn động mạnh, cảm thấy có một luồng kình lực như dời núi

lấp biển xô tới, tay trái của Đường Hành đã một chưởng vỗ ra, đánh trúng ngực

hắn.

“Keng”

một tiếng, đao của Cao Việt vuột tay bay tung lên, người đổ xuống, rơi vào cái

rãnh nước sâu ngang eo.

Trong

lúc luống cuống, hắn uống phải mấy ngụm nước bùn, chỉ cảm thấy khí huyết nhộn

nhạo, toàn thân mềm nhũn, không làm sao đứng dậy được. Lụp ngụp trong nước mất

một lúc mới tóm được túm cỏ bên rìa rãnh, ngoi đầu lên khỏi rãnh nước, vừa lúc

thấy Đường Hành gập người ngồi ở bên, lạnh lẽo nhìn mình.

Mưa

giăng khắp trời. Hắn bất giác nhắm mắt lại đợi đao cuối cùng.

Đợi một

lúc, hắn cảm thấy có cánh tay túm lấy tay mình, dùng sức kéo hắn ra khỏi rãnh

nước.

Cao

Việt mở mắt, nghi hoặc nhìn Đường Hành, ánh mắt lại chuyển sang bàn tay đối

phương.

Đường

Hành đã cởi găng tay, mười đầu ngón tay thon dài đều được thoa sơn đỏ.

Hất bàn

tay ấy ra như bị điện giật, hắn quay đầu lại, nôn mửa xuống cái rãnh nọ, sau đó

khàn giọng hỏi: “Sao ngươi không giết ta?”.

Đường

Hành yên lặng đợi hắn nôn xong, đứng thẳng dậy, từ tốn chỉnh trang y phục cho

ngay ngắn, nhạt giọng nói: “Đuổi tận giết tuyệt là trò nam nhân thích làm, ta

không thèm làm thế”.

Tiếng

ngựa hý xa dần, khi hắn mở mắt ra lần nữa, nơi này chỉ còn lại độc mình hắn.

Hắn đột

nhiên nghĩ, tên ở trang thứ hai so với không có tên nữa thì còn tốt chán.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.