Chương 25: Mặt Chiêng Chắn Lưng Non

A Mẫn khẽ dạ một tiếng rồi nhanh chân bước vào gian trong. Chỉ một lát sau, cậu thiếu niên hai tay nâng chiếc hộp bọc da thú màu nâu sẫm, bước đi cẩn trọng quay trở lại gian xưởng rèn. Trưởng bản Ma Luân cùng mấy vị bô lão vừa bước tới trước bậu cửa, thấy vẻ mặt trang nghiêm của hai ông cháu liền lặng lẽ dừng chân bên cạnh giá bễ trâu, không ai bảo ai đều tự giác đứng nghiêm trang chứng kiến.

Ngọn lửa than nghiến trong lò âm đất vừa được khơi thêm mấy thanh củi gắp đượm, tỏa ra sắc hồng ấm áp soi rọi lên mặt đe đá xanh ngàn năm sừng sững. Cụ Từ Vĩnh Xuyên hít một hơi thật sâu, đón lấy chiếc hộp từ tay A Mẫn rồi nhẹ nhàng đặt lên mặt đe. Đôi bàn tay chằng chịt vết sẹo lửa của cụ khẽ miết qua khóa đồng đã ngả màu ten cổ, bấm nhẹ chốt hãm. Nắp hộp bật mở, một làn hơi dầu trẩu quyện mùi da thuộc thoảng bay trong không gian bảng lảng khói mờ.

Nằm gọn trong lớp vải nhung đỏ đã ngả sắc thời gian là một cây búa gò đồng có chuôi bằng gỗ nghiến đen bóng, đầu búa đúc bằng đồng lạnh pha sắt non, mười hai múi khía quanh thân búa chìm sâu, tượng trưng cho mười hai tiết khí xoay vần của đất trời. Cụ Từ chậm rãi nâng cây búa lên, ánh mắt cụ rực sáng vẻ trìu mến. Cụ nhìn thẳng vào A Mẫn, cất giọng trầm hùng vang vọng khắp gian xưởng “Cây búa này theo tổ tiên Từ Gia ba đời qua, gò nên không biết bao nhiêu mặt chiêng giữ làng, dập tắt biết bao hiểm họa từ ruột núi. Nay đất bằng đã định, lòng non đã yên, lão trao lại cây búa truyền đời này cho con.”

A Mẫn rưng rưng nước mắt, hai đầu gối quỳ rạp xuống nền đất nện vừa san phẳng. Hai bàn tay quấn vải chàm còn vương vết tích sau trận ghìm dây cứu chiêng cung kính giơ cao qua đầu. Cụ Từ đặt chiếc búa gò mười hai múi vào lòng bàn tay người cháu, siết chặt lấy đôi tay trẻ trung ấy, dặn dò từng tiếng rõ ràng “Mẫn à, nghề gò chiêng của dòng họ ta không phải để mưu cầu vinh hoa phú quý hay đổi lấy bạc vàng chất đống. Tiếng búa gõ xuống là để nghe nhịp thở của non cao, tiếng chiêng vang lên là để vỗ về nỗi đau của đất mẹ và chở che cho từng mái nhà sàn. Mai này dù đứng trước cám dỗ bạc vạn hay uy quyền sấm sét, tâm con có trong sạch thì thớ đồng mới đượm, tiếng chiêng mới thấu suốt được lòng người. Con nhớ lấy!”

“Cháu xin khắc ghi từng lời dạy của ông nội!” Giọng A Mẫn đanh thép mà nghẹn ngào, trán chạm sát nền đất lạnh. “Cả đời này cháu nguyện giữ trọn tấm lòng người thợ, dùng cây búa của tổ tiên giữ yên xóm làng.”

Trưởng bản Ma Luân cùng các bô lão khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên niềm tin cậy tuyệt đối vào thế hệ kế nghiệp của thung lũng Hạc Lăng.

Sáng hôm sau, khi những tia nắng ấm đầu tiên xua tan lớp sương mờ trên đỉnh Hạc Ngực, tiếng cồng lệnh rộn rã cất lên từ nhà rông trung tâm. Hơn ba trăm con người của bảy mươi hai nóc nhà sàn tề tựu đông đủ, ai nấy đều vận trang phục chàm truyền thống đẹp nhất. Tám chàng trai bản lực lưỡng, ngực trần vạm vỡ, kính cẩn gác đòn khiêng bằng gỗ nghiến, chung sức rước cỗ đại chiêng “Hạc Lăng Trấn Nhạc” từ sân xưởng Từ Gia tiến về phía nhà rông.Mặt chiêng rộng sáu thước sáu tấc bằng đồng hun nguyên chất sáng bóng dưới ánh mặt trời rực rỡ. Nổi bật trên nền đồng đỏ là một đường rạn ngầm lấp lánh ánh tơ chỉ bạc, chạy dài từ múi chiêng thứ mười hai quy tụ về núm tròn trung tâm. Vết rạn phong sương ấy không hề làm giảm đi uy lực của đại chiêng, mà ngược lại càng khắc sâu dấu ấn của một trận chiến oai hùng nơi mỏm đài Tai Mèo, nơi mặt chiêng đã hứng trọn phản lực ngàn cân để cứu vớt toàn bộ sinh linh thung lũng.

Trước sự chứng kiến của toàn thể bà con, cỗ đại chiêng được an vị trang trọng ngay giữa gian chính của ngôi nhà rông cao vút. Cửa lớn nhà rông mở toang, mặt chiêng hướng thẳng về phía vách núi Hạc Ngực và rặng Ngọa Nham đằng xa. Từ nay, cỗ chiêng bản mệnh sẽ mãi mãi ngự nơi đây, làm lá chắn tâm linh vững chãi bảo bọc muôn đời cho thung lũng Hạc Lăng thanh bình.

Những ngày sau đó, nhịp sống yên ả nhanh chóng trở lại với từng nếp nhà sàn. Đất đá sạt trượt nơi vực hoang mé đông bắc đã được cỏ non phủ xanh, dòng nước suối Ngân Xích lại trong veo luồn qua từng chân cột gỗ.

Dưới bóng râm cây sa mu cổ thụ trước xưởng rèn Từ Gia, A Thảo ngồi bên khung cửi nứa, đôi tay thoăn thoắt đưa thoi dệt tấm vải chàm mới. Đôi khuyên xâu hai hạt đồng nhỏ nơi vành tai cô bé khẽ lay động theo từng nhịp dệt. Đôi tai từng cảm ứng tiếng gió luồn khe nứt giờ đây đón nhận tiếng chim rừng ríu rít gọi bầy trên vách núi thiêng. A Thảo cất giọng hát dân ca sơn cước trong trẻo, tiếng hát vút cao hòa cùng làn gió ngàn vi vu.

Bên đe đá xanh ngàn năm, tiếng búa gò con của A Mẫn vang lên đĩnh đạc, nhịp nhàng: “Boong… boong… boong…” Cậu thiếu niên đang tập trung tinh thần rèn lại những chiếc lưỡi cày mới cho bà con kịp cày xới nương ngô vụ tới. Từng nhát búa nện xuống thớ sắt đỏ au dứt khoát và chuẩn xác, phảng phất phong thái trầm tĩnh, kiên định của người thợ cả tương lai.

Cụ Từ Vĩnh Xuyên ung dung ngồi tựa lưng vào cột gỗ nghiến bên hiên nhà sàn. Cụ nâng bát trà ấm lên ngang miệng, khẽ nhấp một ngụm trà rừng thơm ngát vị mật ong. Vết thương cũ nơi lồng ngực qua hơn sáu mươi năm nhức nhối nay đã hoàn toàn êm dịu, nhẹ bẫng như mây trời.

Ánh mắt trong veo màu đồng hun của cụ phóng tầm nhìn ra khắp thung lũng Hạc Lăng. Đằng xa, dưới chân rặng Ngọa Nham sừng sững đã thôi r*n r*, bảy mươi hai nóc nhà sàn đang đồng loạt nhóm lửa chuẩn bị bữa cơm chiều. Từng làn khói bếp lam mềm mại uốn lượn bay lên, quyện vào sương chiều bảng lảng, dệt nên một bức tranh sơn cước ấm áp và thanh bình khôn xiết.

Cụ Từ khẽ mỉm cười đĩnh đạc, vuốt chòm râu bạc phơ bay trong gió núi. Đời người trăm ba mươi sáu năm nương tựa bóng non cao, chứng kiến bao vật đổi sao dời, giờ đây thấy ngọn lửa nghề đã có người tiếp nối, bản làng an vui keo sơn gắn kết, cõi lòng người thợ già thanh thản hơn bao giờ hết. Tiếng búa gò đồng của A Mẫn lại ngân nga vang vọng giữa thung sâu, hòa vào nhịp đập muôn đời của đất trời non ngàn.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.