Chương 1: Bóng Đổ Nghịch Lý
Mùi chua nồng của axit axetic bốc lên từ chiếc hộp sắt tây tròn gỉ sét xộc vào cánh mũi Văn Nhật Quang ngay khi nắp kim loại vừa bật mở. Trong gian buồng tối ngột ngạt của Xưởng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, ánh sáng duy nhất phát ra từ chiếc đèn an toàn bọc kính đỏ sẫm treo trên trần, rọi xuống một vùng sáng mờ ảo.
Quang chỉnh lại cổ áo sơ mi bộ đội bạc màu, xoa nhẹ đôi bàn tay mang găng vải sợi bông trắng trước khi chạm vào cuộn phim. Đây là bản phim nhựa 35 milimét của hãng Orwo từ Cộng hòa Dân chủ Đức, được bộ phận lưu trữ bàn giao để phục chế nhân dịp kỷ niệm năm năm trận lũ sông Đáy năm 1983. Tờ phiếu giao nhận đính kèm đã ố vàng mép giấy, những dòng chữ đánh máy cơ khí mực tím mờ nhạt: “Phim tư liệu: Đoàn cứu trợ phân lũ sông Đáy – Ngày 19 tháng 8 năm 1983. Trưởng đoàn: Vũ Khắc Khiêm. Thời điểm bấm máy: 10 giờ sáng”.
Dưới ánh sáng đỏ nhờ nhợt, những ngón tay dài dính vệt ố vàng vĩnh viễn của hóa chất tráng phim nâng niu dải nhựa mỏng manh. Năm năm trong tủ sắt ẩm thấp khiến lớp nhũ tương gelatin bắt đầu khô giòn. Quang đặt cuộn phim lên mâm quay của bàn dựng cơ khí Steenbeck. Anh khéo léo luồn dải phim qua các trục dẫn hướng, gài rãnh đục lỗ vào hàng bánh răng kim loại. Từng tiếng lách cách khô khốc vang lên đều đặn, ăn khớp chuẩn xác đến từng phần mười milimét.
Quang bật công tắc. Mô tơ điện rung lên ro ro, cuộn nhận chuyển động, kéo dải phim lướt ngang lăng kính phóng đại và thấu kính tụ sáng. Trên màn chiếu kính mờ nhỏ bằng bàn tay giữa bàn dựng, những thước phim đen trắng hiện ra.
Nước lũ sông Đáy năm ấy cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa, dâng mấp mé mặt đê. Giữa màn mưa bão vừa dứt, chiếc ca nô cứu trợ rẽ sóng bạc đầu lao đi, mang theo những bao tải lương thực. Trên mũi thuyền, lá cờ đỏ sao vàng ướt sũng dán chặt vào cột sắt. Một người đàn ông mặc áo mưa bộ đội đứng sừng sững ở mạn thuyền, giơ tay chỉ đạo về phía hạ lưu. Dù chất lượng hình ảnh qua ống kính máy quay Konvas có hạt bạc hơi thô, Quang vẫn nhận ra vầng trán rộng và dáng dấp bệ vệ của Vũ Khắc Khiêm thời còn làm Trưởng đoàn cứu trợ.
Ánh mắt sâu thẳm của Quang nheo lại. Là kỹ thuật viên phục chế lâu năm, anh không chỉ nhìn ngắm chuyển động đơn thuần mà luôn giải phẫu hình ảnh bằng con mắt trắc quang: đọc độ phơi sáng, tỷ lệ tương phản và sự phân bổ của các tinh thể bạc halogenua bắt sáng.
Khi chiếc ca nô lướt ngang dải nước lặng ven đê, khung hình thu trọn bãi cọc tiêu thủy văn cắm đứng giữa dòng nước xiết. Đó là hàng cọc gỗ tròn sơn hai màu trắng đỏ phân đoạn, mỗi cọc cao đúng hai mét theo quy chuẩn đo mực nước. Mặt trời hắt xuống những vệt nắng chói chang in rõ từng bóng đen sẫm trên mặt nước đục.
Đột nhiên, đồng tử của Quang co thắt lại. Một cảm giác bất an sắc lạnh như lưỡi dao cắt phim cào nhẹ qua sống lưng anh.
Quang lập tức gạt cần hãm cơ học. Bàn dựng Steenbeck dừng phắt lại với một tiếng “tách” dứt khoát. Khung hình đứng yên đúng khoảnh khắc mũi chiếc ca nô ngang hàng với thân cọc tiêu thủy văn số ba.
Bóng của cọc tiêu in trên mặt nước nghiêng dài lê thê về phía đông bắc.
Quang cúi rạp người, sống lưng hơi còng áp sát màn kính mờ. Đôi mắt một mí căng ra, rà soát từng milimét bóng đổ. Có một sự nghịch lý vật lý trắng trợn đang phơi bày ngay trước mắt anh.
Theo thói quen nghề nghiệp, Quang luôn nắm vững biểu đồ khí quyển và quy luật thiên văn thực địa. Ngày 19 tháng 8 tại vĩ độ miền Bắc, vào mười giờ sáng theo nhật trình, góc cao của mặt trời phải đạt ít nhất năm mươi mốt độ so với đường chân trời, góc phương vị chếch về hướng đông nam. Ở vị trí đó, bóng của cọc tiêu cao hai mét in xuống mặt nước chỉ có thể dài chừng một mét rưỡi và đổ chếch về hướng tây bắc.
Nhưng bóng cọc tiêu trên khung hình này lại vươn dài gấp rưỡi chiều cao cọc và đổ dạt hoàn toàn sang mạn đông bắc.
Quang không suy đoán cảm tính. Với một giám định viên hình ảnh, cảm xúc là thứ tạp chất nguy hiểm. Anh mở ngăn kéo bàn, rút chiếc thước đo độ vi trắc bằng thép không gỉ cùng cuốn bảng tra cứu thiên văn độ cao mặt trời của Đài khí tượng thủy văn Trung ương xuất bản năm 1980.Tháo dải phim khỏi bàn dựng, Quang đặt đoạn phim nghi vấn lên bàn soi phẳng. Bật đèn ánh sáng trắng chuyên dụng, anh áp mép thước dọc theo vạch phân độ chân trời phía sau rặng tre ven đê, căn chỉnh kim đo theo hướng đổ bóng.
Từng vạch khắc cơ khí trên thước thép sáng loáng dưới mắt anh. Quang tính toán cẩn trọng từng góc số.
Sai lệch góc phương vị lên tới đúng 14 độ!
Quang lật giở từng trang bảng tra cứu góc chiếu thiên văn, ngón tay dò theo tọa độ vùng sông Đáy. Với độ dài bóng đổ thực tế đo được trên diện tích khung hình 35 milimét, góc cao của mặt trời lúc bấm máy chỉ dao động từ hai mươi lăm đến hai mươi bảy độ.
Góc nắng thấp kết hợp với góc phương vị lệch 14 độ về phía đông bắc tuyệt đối không thể tồn tại vào lúc mười giờ sáng ngày 19 tháng 8. Nó chỉ xuất hiện khi mặt trời đã qua kinh tuyến và đang trượt dài về phía chân trời tây.
Cảnh ca nô cứu trợ này được quay vào buổi chiều muộn, chính xác là sau mười bốn giờ.
Biên bản ghi hình mười giờ sáng là một sự ngụy tạo.
Ký ức năm năm trước dội về buốt giá. Ngày 19 tháng 8 năm 1983 không chỉ có trận lũ lụt. Đó là ngày Viện trưởng Viện Địa chất Hoàng Thế Côn bị sát hại tại lán trại dã chiến ven sông Đáy, cặp tài liệu chứa bản đồ khoáng sản quý và thùng mẫu quặng đất hiếm NX83 bị cướp. Bạn thân của Quang, kỹ sư Trịnh Đình Lộc, phải nhận bản án mười lăm năm tù oan. Trong khi đó, Vũ Khắc Khiêm hoàn toàn thoát khỏi diện tình nghi nhờ cuộn phim tư liệu này: cảnh Khiêm trên chiếc ca nô cứu trợ lúc mười giờ sáng tại trạm phân lũ chính, cách hiện trường án mạng ba mươi cây số, đã trở thành bằng chứng ngoại phạm vững như thép.
Nhưng nếu đoạn phim này không hề được quay vào buổi sáng?
Quang nén chặt sự chấn động trong lồng ngực. Anh mang đoạn phim sang chiếc kính hiển vi quang học ở góc buồng tối. Đôi bàn tay khẽ run nhưng nhanh chóng lấy lại sự vững vàng của người thợ lành nghề. Anh đặt dải phim Orwo dưới thị kính, xoay nhẹ núm vi chỉnh tiêu cự.
Ánh sáng tập trung rọi qua lớp đế phim trong suốt. Quang chầm chậm rê dải phim dọc theo từng khung hình, quan sát mép rãnh răng cưa và đường biên phơi sáng.
Khi thị kính dừng lại ở điểm tiếp giáp giữa cảnh quay triền đê và lúc chiếc ca nô lướt vào bãi cọc tiêu, hơi thở của Quang ngưng bặt.
Dưới độ phóng đại hai mươi lần, hiện ra một đường chỉ mỏng li ti phẳng lì, gờ lên một mép quang học khúc xạ bất thường. Đó là dấu vết của mối nối thủ công bằng dung môi hóa học chuyên dụng. Kẻ thao tác có tay nghề cắt dựng thượng thặng, nhưng sự nóng chảy cục bộ của đế phim đã để lại vết sẹo phân tử vĩnh viễn không thể xóa nhòa.
Kinh hoàng hơn, khi Quang tỉ mỉ đếm từng bước răng cơ học trên mép kéo phim, khoảng cách giữa hai khung hình đột ngột co hẹp. Rãnh xước cơ học chạy dọc mép phim bị đứt gãy, để lộ một khoảng khuyết thiếu: đúng bốn khung hình nguyên bản đã bị cắt rời khỏi cuộn phim không một dấu vết.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
