Thánh Nguyên năm thứ nhất, tức năm canh thìn (1400),cuối năm, Quý Ly làm vua chưa được 1 năm thì bắt chước tục nhà Trần, nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, rồi làm Thái Thượng Hoàng. Quý Ly đã nhường ngôi rồi, nhưng việc gì cũng tự mình quyết đoán cả, Hán Thương chỉ làm vua lấy vì mà thôi.
Năm sau, cải nguyên, niên hiệu Thiệu Thành nguyên niên, tức năm tân tỵ (1401),chỉnh đốn võ bị, quân số tăng lên gấp mấy lần, lại đặt ra bốn kho chứa khí giới và bắt thợ giỏi trong dân gian vào làm việc. Sửa sang thủy quân, đóng thuyền lớn. Quân lực tăng, nhưng chi tiêu nhiều, thuế khóa nặng nề, lòng dân oán thán. Quý Ly còn nói với các quan : “Ta làm thế nào cho có 100 vạn quân để đánh giặc bắc”. Trong khi Đại Việt lúc đó chỉ có hơn 2 triệu dân, chẳng lẽ Quý Ly định lấy hết con trai Đại Việt, từ cả đứa trẻ mới sinh cho đến ông già sắp chết ra làm lính.
Cũng năm đó, Tư Dung hành doanh nội quân tăng lên 5.000 người, cấm vệ quân tăng lên 500.
Thiệu Thành năm thứ hai, tức năm nhâm ngọ (1402),Quý Ly sai Đỗ Mãn làm Thủy quân Đô tướng, Phạm Thế Căng làm Bộ quân Đô tướng, suất lĩnh 15 vạn đại quân đi đánh Chiêm Thành. Chiêm vương là Ba Đích Lại sai cậu là Bồ Điền sang dâng đất Chiêm Động (phủ trị ở vùng Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ngày nay) để xin bãi binh. Quý Ly lại bắt phải dâng đất Cổ Lụy (Quảng Ngãi),rồi phân đất ra làm châu Thăng, Châu Hoa, châu Tư, châu Nghĩa, và đặt quan An Phủ Sứ để cai trị bốn châu ấy, gọi chung là Thăng Hoa trấn. Lại bắt những dân có của mà không có ruộng ở các bộ khác đem vợ con vào ở để khai khẩn đất những châu ấy, bởi vì khi vua Chiêm nhường đất Chiêm Động và Cổ Lụy, người Chiêm đều bỏ đất mà đi cả.
Cùng năm, Tư Dung hành doanh nội quân tăng lên 1 vạn, cải thành Định Hải quân. Thủy quân thành lập, nhiệm vụ đầu tiên là vận chuyển 3 vạn thạch lương lên phương bắc.
Năm sau, cải nguyên, niên hiệu Khai Đại nguyên niên, tức năm quý mùi (1403),Quý Ly lại muốn lấy những đất Bạt Đạt Gia, Hắc Bạch, và Sa Ly Nha, tức là vùng phía nam những đất đã nhường năm trước, bèn sai Phạm Nguyên Khôi và Đỗ Mãn đem thủy bộ cả thảy 20 vạn quân sang đánh Chiêm Thành. Theo lệnh Giang Phong, Phạm Thế Căng trước đó đã cáo bệnh, nên không phải đi. Quân nhà Hồ vào vây thành Đồ Bàn hơn một tháng mà đánh không nổi, lương thực hết cả, đành phải rút quân về. Lần này hao binh tổn tướng mà không có công trạng gì. Hơn nữa, quân Chiêm phản kích, Thăng Hoa An phủ sứ tử trận. Thăng Hoa nguy cấp. Quý Ly không cam tâm để mất Thăng Hoa, lệnh cho Phạm Thế Căng dù đang bệnh cũng phải vào kinh lý đất Thăng Hoa. Từ đó, Thăng Hoa sát nhập vào Nam trấn.
Tư Dung hành doanh. Thái An Đại Viện.
Giang Phong đang nghe chúng thủ hạ báo cáo. Mọi người thần sắc nghiêm trang. Năm năm kể từ khi Giang Phong giáng lâm, sau năm năm chuẩn bị, giờ cũng đã đến lúc cử sự. Nam Dương Hạm đội đô đốc Đinh An Bình bẩm báo :
Định Hải tướng quân Triệu Phong bẩm báo :
Quảng Tế Pháp sư bẩm báo :
Thương mại Tổng quản Cát Ti bẩm báo :
Giang Phong hài lòng nói :
Chúng nhân đồng cung thân nói :
Rồi Đinh An Bình và Triệu Phong lập tức đi đến quân doanh, chuẩn bị cho quân sĩ xuống thuyền. Quảng Tế Pháp sư thì đi điều động dân phu. Cát Ti thì đi triệu tập số thương nhân đi theo làm hướng đạo. Mấy năm trước, Giang Phong đã bảo Cát Ti phái thương đoàn đến vùng Lã Tống thám thính tình hình, điều tra phong thổ nhân tình, vẽ lại địa đồ. Nay đã đến lúc dùng đến.
Lát sau, Quảng Tế Pháp sư quay vào, bẩm báo :
Giang Phong gật đầu bảo :
Quảng Tế Pháp sư vâng dạ, lui ra, lát sau dẫn Phạm Thế Căng vào. Sau khi hành lễ xong, Giang Phong hỏi :
Phạm Thế Căng cung kính nói :
Giang Phong nói :
Phạm Thế Căng nói :
Hiện tại nhà Hồ chỉ có hai danh tướng là Đỗ Mãn và Phạm Thế Căng. Trong ba cuộc chiến tranh từ khi nhà Hồ thành lập đến giờ, Đỗ Mãn tham dự cả ba, Phạm Thế Căng chỉ tham dự một lần. Nhưng đó lại là lần duy nhất đại thắng, chiếm được đất Thăng Hoa. Còn hai lần kia đều hao quân tổn tướng, chẳng nên công trạng gì. Do đó Phạm Thế Căng tự nhiên trở thành đệ nhất danh tướng của triều đình, thanh vọng còn cao hơn cả Đỗ Mãn. Chỉ có điều, Phạm Thế Căng là người Mường, Quý Ly không tin tưởng, nên không thể về triều mà phải trấn giữ biên cương. Đương nhiên, đã là đệ nhất danh tướng thì cũng sẽ là phong cương đại lại. Vùng Nam trấn triều đình đã ủy thác cho Phạm Thế Căng toàn quyền liệu lý, lo việc phòng ngự quân Chiêm, giữ yên mặt nam cho triều đình rảnh tay phòng ngự mặt bắc. Thật ra thì nếu không giao cho Phạm Thế Căng, triều đình sẽ buộc phải phân binh (quân của Phạm Thế Căng là tư quân, lại chủ yếu là người Mường, quan tướng triều đình quản không được). Và nếu làm vậy thì phòng tuyến phía bắc sẽ yếu đi, đó là điều mà Quý Ly tối kỵ. Y vẫn luôn đề phòng Minh triều. Mối họa phương bắc lớn hơn mối họa phương nam nhiều.
Quảng Tế Pháp sư tán thán :
Phạm Thế Căng cũng ca tụng :
Thật ra thì do không thôn tính được Thăng Hoa, bọn Giang Phong mới lập kế hoạch bí mật phái người quấy nhiễu đất Chiêm, dẫn một số toán quân Chiêm áp sát Thăng Hoa, sau đó phái sát thủ ám sát Thăng Hoa An phủ sứ. Tạo nên giả tượng là Thăng Hoa nguy cấp. Nhiệm vụ của Phạm Thế Căng lúc này là vào đánh đuổi mấy toán quân Chiêm kia, kiểm soát hoàn toàn đất Thăng Hoa.
Giang Phong suy nghĩ giây lát, rồi nói :
Phạm Thế Căng ngạc nhiên hỏi :
Giang Phong nói :
Phạm Thế Căng sắc diện trầm trọng, thở dài nói :
Quảng Tế Pháp sư nhắc nhở :
Các triều đại trước đây, mỗi khi muốn chống Bắc quân đều hòa hảo với Chiêm Thành. Nhà Lý đánh Chiêm Thành chỉ khi đã lo yên việc phương bắc rồi. Chỉ có Hồ Quý Ly trong khi chuẩn bị chống quân Minh thì lại đem quân đánh Chiêm Thành, quả là thất sách. Dù có chiếm được Thăng Hoa thì cũng chỉ là tạm chiếm, khi quân Minh kéo sang, quân Chiêm cũng bắc tiến, chiếm lại Thăng Hoa một cách dễ dàng, rồi kéo quân tấn công Hóa Châu. Thăng Hoa chẳng có mấy người Việt, làm sao giữ được. Giang Phong đương nhiên không muốn sự việc như thế diễn ra. Thà rằng học theo nhà Lý, nhà Trần tuần tự tiệm tiến, lấn dần dần. Trước mắt củng cố vùng Chiêm Động (Quảng Nam) trước đã, vùng Cổ Lụy (Quảng Ngãi) sẽ tính sau.
Phạm Thế Căng đi rồi, Giang Phong lại nhớ đến một việc quan trọng, bảo Quảng Tế Pháp sư :
Đa số các sách cổ của người Việt thất truyền là do quân Minh mang về Tàu. Giang Phong không thể để chuyện đó diễn ra. Có điều, Giang Phong không quan tâm nhiều các sách thơ văn, pháp luật. Thu thập được thì tốt, không có cũng chẳng sao. Chủ yếu là giữ được binh thư, toán pháp, y học mà thôi. Quảng Tế Pháp sư cung kính vâng dạ, cẩn thận ghi nhớ. Mọi mệnh lệnh của Giang Phong, lão đều nguyên bản chấp hành.