Chương 11: Góp Từng Bó Rơm

Chiếc xe máy của Đạo Văn Hùng chầm chậm rẽ vào con đường đất dẫn vào làng gốm Bàu Trúc khi vòm trời Nam Cương đã sập tối. Gió bấc từ triền đồi cát thổi lồng lộng qua rặng tre đầu xóm, cuốn theo hơi nóng khô khốc còn sót lại của một ngày nắng rang. Bước xuống xe trước cổng rào gỗ sao đen, cụ Đàng Thị Mai Trâm chống chiếc gậy tre đứng vững chãi, khẽ đưa mắt bao quát khuôn viên hai nghìn năm trăm mét vuông của dòng họ Đàng. Gian nhà rường bốn mái cổ kính đứng sừng sững dưới bóng đêm, khoảng sân đất nện rộng rãi vốn là nơi nhóm lửa bao đời nay đã được quét dọn phong quang, chỉ chờ những ụ củi me và rơm rạ chở về để chuẩn bị cho đêm nung lộ thiên.

Thế nhưng, vừa thấy bóng cụ Trâm cùng Hùng và Như Mây bước vào, Đàng Thị Thu Cúc từ bậc thềm chái bếp đã hớt hải chạy ra. Gương mặt người phụ nữ năm mươi tuổi tái nhợt dưới ánh đèn hiên, đôi mắt thâm quầng đỏ hoe vì lo lắng tột cùng.

“Bà ngoại ơi!” Thu Cúc nghẹn ngào, hai bàn tay thô ráp chai sần bấu chặt lấy vạt áo chàm. “Mười lăm phút trước, chú Ba Nhàn bên xã Phước Hữu vừa gọi điện báo tin dữ. Toàn bộ các chuyến xe chở củi me già với rơm rạ khô đã nhận tiền cọc của nhà mình đều bị người của Công ty Hoàng Long chặn lại. Thằng Thắng cho tay chân xuống tận từng gốc vườn gom củi, trả giá cao gấp đôi để vét sạch, lại còn đe dọa cánh tài xế nếu dám chở một que củi sang đất họ Đàng thì đừng hòng lăn bánh trên đường huyện. Chú Ba Nhàn đành phải hủy chuyến, đem tiền cọc trả lại rồi!”

Nhìn khoảng sân đất nện trống trơn lạnh ngắt, Thu Cúc không kìm được tiếng nấc: “Bà ngoại bảo mở lại đống nung lộ thiên để đối đầu với quân gian thương, mà giờ không có lấy một cành củi me, một cọng rơm mồi, thì làm sao gốm đỏ lửa được hả Bà?”

Như Mây đứng chôn chân bên cạnh, bờ môi cắn chặt đến ứa máu. Cụ Trâm nhận thấy sự bàng hoàng và day dứt tột cùng hằn sâu trên từng nét mặt của đứa chắt gái. Đòn thù của Lục Văn Thắng giáng xuống hiểm hóc và tàn nhẫn, nhắm thẳng vào huyết mạch của nghề truyền thống. Không có chất đốt đạt chuẩn, đất sét sông Quao dù dẻo quánh tinh khiết đến đâu cũng chỉ là những khối bùn mộc vô hồn.

Nhưng cụ Mai Trâm không hề nao núng. Trải qua một thế kỷ dạn dày phong ba bão táp, cụ hiểu rất rõ bản chất của lửa và đất. Cụ khẽ vỗ mu bàn tay gầy guộc chằng chịt gân xanh lên vai Thu Cúc, giọng trầm đục mà đanh thép “Gặp chút sóng gió mà con đã vội rơi nước mắt rồi sao con Cúc? Đất mẹ nhẫn nại qua bao mùa hạn hán còn chưa cạn mạch ngầm, lòng người họ Đàng sao nỡ lung lay trước mấy trò bẩn thỉu của lũ gian thương? Củi rơm của xứ này không mọc trong túi tiền của thằng Thắng.”

Cụ Trâm quay sang nhìn Đạo Văn Hùng và Như Mây, chiếc gậy tre chỉ thẳng về phía gian kho cũ dựng bằng gỗ sao nép sau rặng me già “Cháu Hùng, cháu Mây, hai đứa theo Cố ra mở then cài kho củi cũ.”

Cánh cửa kho gỗ kẽo kẹt mở ra sau nhiều tháng ngày khép kín. Dưới ánh đèn pin của Hùng, từng khúc củi me già đượm dầu, lớp vỏ nứt nẻ xù xì được xếp ngay ngắn từ mùa khô năm trước hiện ra thơm nồng mùi gỗ mục và nắng quái. Cụ Trâm bước vào, cúi xuống vỗ nhẹ lên một thanh củi nặng trịch “Mùa hạn năm ngoái, một mình Cố cặm cụi tích trữ số củi này phòng khi trở trời. Chỗ củi me gốc này đủ giữ than hồng đượm ở đáy đống nung, nhưng để bao bọc cả mẻ gốm lớn vượt qua nhiệt độ chín trăm độ C, chúng ta cần rơm nếp giòn và củi cành nhiều gấp năm lần thế này. Đất Bàu Trúc không chỉ có một nhà làm gốm. Con người sống cùng nhau trên mảnh đất này ngàn đời nay đâu phải vì vài đồng bạc lẻ.”

Cụ Trâm chỉnh lại nếp áo chàm dệt chỉ vàng, tay nắm chặt gậy tre, quắc thước bước ra cổng “Bà đi tìm bà con trong xóm.”

Thu Cúc hốt hoảng toan ngăn lại: “Bà ơi, đêm hôm sương lạnh, chân Bà…”“Chân tôi còn giẫm trên đất cát quê hương thì chưa bao giờ biết lạnh!” Cụ Trâm ngắt lời, uy nghi bước qua cánh cổng rào.

Bóng lưng còng nhẹ nhưng vững như bàn thạch của cụ bà một trăm linh bốn tuổi hòa vào màn đêm u tịch của làng gốm Bàu Trúc. Tiếng gậy tre gõ lốc cốc trên con đường liên thôn lạo xạo sỏi đá vang lên đều đặn. Dừng lại trước ngõ nhà Nghệ nhân cao niên Đạo Thị Hảo, cụ Trâm cất tiếng gọi trầm ấm. Cánh liếp tre lập tức mở toang, cả gia đình bà Hảo ngỡ ngàng khi thấy bậc trưởng lão mẫu hệ tối cao đích thân chống gậy đứng trước thềm nhà.

Không quanh co giấu giếm, cụ Trâm dõng dạc nói rõ âm mưu thâm độc của Công ty Hoàng Long: mưu toan dùng đất pha bột chì độc hại, dập khuôn cơ giới để hủy hoại danh dự làng nghề, gài bẫy siết đất tổ và chặn đường củi rơm của họ Đàng. Cụ nói bằng giọng điệu đượm vẻ hào hùng của người đã sống trọn một thế kỷ cùng đất mẹ “Gốm Bàu Trúc nuôi sống con cháu bao đời nay bằng sự tinh sạch. Nay quân gian muốn dập tắt ngọn lửa rơm truyền thống để đưa chất độc vào đời sống bà con. Tôi cần rơm nếp khô và củi me đượm than để nổi lửa sân trời, làm nên mẻ gốm sạch minh oan cho làng nghề trước thiên hạ. Bà con có nỡ để ngọn lửa tổ tiên lụi tàn đêm nay không?”

Lời cụ vừa dứt, người con trai cả của bà Hảo đã quăng chiếc nón lá xuống phản, lớn tiếng đáp: “Cụ cố nói chí phải! Thằng Thắng tưởng có tiền là bịt được mắt trời xóm Chăm này sao? Nhà cháu vừa gặt xong ba sào ruộng nếp, rơm khô phơi giòn chất đầy góc vườn, cháu đánh xe bò chở sang xưởng họ Đàng ngay bây giờ!”

Tiếng gậy tre của cụ Trâm lại tiếp tục gõ vang qua từng ngõ xóm. Cả xóm Bàu Trúc như bừng tỉnh giữa đêm khuya. Thấu hiểu bản lĩnh và tấm lòng kiên trung của bậc nghệ nhân bách tuế, người dân không ai bảo ai, lập tức thắp đuốc, mở cổng chuồng rơm. Từ đầu thôn đến cuối xóm, những chiếc xe bò lộc cộc lăn bánh chở đầy ắp củi me xẻ khúc, các mẹ, các chị kĩu kịt gánh từng gánh rơm nếp vàng óng, rơm rạ thơm ngát mùi đồng nội đổ dồn về khoảng sân rộng hai nghìn năm trăm mét vuông của dòng họ Đàng. Khí thế đoàn kết rực rỡ đã đập tan hoàn toàn âm mưu bao vây, phong tỏa chất đốt của Lục Văn Thắng.

Đến nửa đêm, khoảng sân đất nện đã ngập tràn củi rơm nghĩa tình chất cao thành từng đống sừng sững. Dưới ánh sáng vàng ấm áp hắt ra từ hiên nhà rường, cụ Mai Trâm trực tiếp hướng dẫn con cháu cùng bà con phân loại chất đốt. Bàn tay gầy guộc của cụ thoăn thoắt nhấc từng que củi, vuốt từng nắm rơm để kiểm tra độ ẩm.

“Củi me cành nhỏ và vỏ trấu xếp riêng ra góc này để mồi lửa ngọn,” cụ Trâm chỉ dẫn cặn kẽ, giọng vang rành rọt. “Củi me gốc nặng cả tạ dùng kê quanh vành đáy để giữ than hồng đượm, chống sốc nhiệt khi gió bấc thổi mạnh. Rơm nếp khô phải giũ sạch bụi cát, bó thành từng lọn chặt tay để khi ủ phủ lên ngọn gốm, khói rơm chuyển sang màu xanh lam dẫn nhiệt chín đều từ ngoài vào trong. Nhớ kỹ lời tôi, một nhánh củi mục ẩm ướt cũng có thể làm loang lổ thớ đất, một vốc rơm mốc sẽ phá hỏng hoàn toàn màu hỏa biến khi rảy nước vỏ cây. Đất tinh sạch thì lửa cũng phải tinh khiết vẹn toàn!”

Hùng ghi chép cẩn thận các thông số nhiệt lượng cảm quan của cụ, trong khi Thu Cúc và Như Mây cặm cụi xếp từng lọn rơm vàng ươm vào vị trí chỉ định. Nhìn những sọt đất phù sa sông Quao mịn màng xếp cạnh núi củi rơm chan chứa tình làng nghĩa xóm, ngực cụ Trâm dâng lên một niềm tự hào mẫu hệ sâu sắc. Bức bình phong nghi binh để phối hợp cùng cơ quan công an kinh tế đã được dựng lên vững chắc bằng chính tấm lòng của đồng bào xóm Chăm.

Đêm đã về khuya, gió bấc thổi qua sân xưởng mang theo hơi sương lạnh buốt. Bà con chòm xóm đã lục tục ra về sau khi hoàn tất việc xếp đặt củi rơm. Không gian nhà rường họ Đàng chìm vào cõi tĩnh lặng trang nghiêm.

Cụ Mai Trâm bước chậm rãi tới bên bệ kê bằng gỗ me già đặt giữa sân nện. Ánh mắt cụ dừng lại nơi Như Mây đang đứng thất thần bên hiên. Cụ cất tiếng gọi trầm ấm “Mây, bước lại đây với Cố.”

Như Mây giật mình, run rẩy bước từng bước ngắn tới cạnh bệ gỗ. Cụ Trâm không nói một lời trách phạt, nhưng ánh mắt quắc thước của cụ tựa như ngọn lửa soi rọi tận đáy sâu tâm can chắt gái. Đã đến lúc gột rửa mọi vết nhơ của thói tự phụ, nôn nóng và cám dỗ đồng tiền.

Cụ Mai Trâm đặt khối đất sét sông Quao dẻo quánh lên bệ kê gỗ me già, ánh mắt nghiêm cẩn nhìn đôi chân trần của Như Mây đang ngập ngừng trước mặt đất lạnh buốt.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.